fanpage

Thống kê truy cập

  • Online: 20
  • Hôm nay: 1086
  • Tháng: 15867
  • Tổng truy cập: 3895965
Chi tiết bài viết

Bình luận khoa học hình sự tập 10

ĐINH VĂN QUẾ

CHÁNH TOÀ TOÀ HÌNH SỰ TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỐI CAO

 

BÌNH LUẬN KHOA HỌC

BỘ LUẬT HÌNH SỰ
 

PHẦN CÁC TỘI PHẠM

 

 (TẬP X)

 

CÁC TỘI XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

 

(BÌNH LUẬN CHUYÊN SÂU)

 

NHÀ XUẤT BẢN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

 

LỜI GIỚI THIỆU

 

Bộ luật hình sự đã được Quốc hội khoá X, kỳ họp thứ 6 thông qua ngày 21 tháng 12 năm 1999, có hiệu lực thi hành từ ngày 1 tháng 7 năm 2000 (sau đây gọi tắt là Bộ luật hình sự năm 1999). Đây là Bộ luật hình sự thay thế Bộ luật hình sự năm 1985 đã được sửa đổi, bổ sung bốn lần vào các ngày 28-12-1989, ngày 12-8-1991, ngày 22-12-1992 và ngày 10-5-1997.

Nhà xuất bản Thành phố Hồ Chí Minh đang xuất bản bộ sách BÌNH LUẬN KHOA HỌC BỘ LUẬT HÌNH SỰ, được thể hiện với nội dung Bình luận chuyên sâu. Hiện tại đã in 11 tập: 1 tập Phần chung và 10 tập Phần các tội phạm.

Tác giả của bộ sách là Thạc sĩ luật học Đinh Văn Quế, Chánh toà Toà hình sự Toà án nhân dân tối cao; đã nhiều năm công tác trong ngành, có nhiều đề tài nghiên cứu khoa học, tham gia giảng dạy và đã cho xuất bản rất nhiều tác phẩm về luật hình sự, đồng thời cũng là người trực tiếp tham gia xét xử nhiều vụ án hình sự.

 Xin trân trọng giới thiệu tập 10 và cũng là tập cuối (Phần các tội phạm) của Bộ sách trên và mong nhận được sự đóng góp của bạn đọc.

 

NHÀ XUẤT BẢN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

 

PHẦN THỨ NHẤT

MỘT SỐ ĐẶC ĐIỂM CỦA CÁC TỘI

XÂM PHẠM HOẠT ĐỘNG TƯ PHÁP

  

 

Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định trong chương XXII Bộ luật hình sự là những hành vi xâm phạm hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án trong việc bảo vệ quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. (Điều 292 Bộ luật hình sự).

Về lý luận cũng như thực tiễn, khái niệm cơ quan tư pháp còn nhiều ý kiến khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp (quyền tư pháp) thì cơ quan tư pháp chỉ bao gồm các Toà án. Điều 63 Hiến pháp năm 1946 của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà quy định: Cơ quan tư pháp của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà gồm có: Toà án tối cao; các Toà án phúc thẩm; các Toà án đệ nhị cấp và sơ cấp. Tuy nhiên, trong quá trình phát triển, bộ máy Nhà nước Việt Nam cũng từng bước được tổ chức cho phù hợp với tình hình chính trị, kinh tế-xã hội. Đến nay ở nước ta đã có 4 bản Hiến pháp (Hiến pháp năm 1946, Hiến pháp năm 1959, Hiến pháp năm 1980 và Hiến pháp năm 1992 ). Mỗi lần Hiến pháp được sửa đổi, bổ sung là một lần có sự sửa đổi, bổ sung về tổ chức bộ máy Nhà nước, trong đó có cơ quan tư pháp. Hiện nay, ngoài Toà án thì còn có các cơ quan khác như: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng được gọi là cơ quan tư pháp, còn cơ quan thi hành án hình sự (các Trại giam thuộc Bộ Công an), cơ quan thi hành án dân sự thuộc Bộ Tư pháp tuy không gọi là cơ quan cơ quan tư pháp nhưng hoạt động của các cơ quan này nếu theo quy định tại Điều 292 Bộ luật hình sự thì cũng được coi là hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, theo tinh thần Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị về cải cách tư pháp từ nay đến năm 2020 thì các cơ quan tư pháp cũng như hoạt động tư pháp cũng phải sửa đổi, bổ sung cho phù hợp. Cơ quan tư pháp và hoạt động tư pháp là một vấn đề đang được các nhà khoa học pháp lý, các luật gia đang nghiên cứu và cũng là vẫn đề Đảng và Nhà nước ta rất quan tâm trong công cuộc cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đề ra.

Hoạt động tư pháp là hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án do Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và Cơ quan thi hành án thực hiện, thông qua hành vi của người tiến hành tố tụng như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó chánh án Toà án, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án; của Cảnh sát tư pháp và của Chấp hành viên. Cũng như đối với cơ quan tư pháp, hoạt động tư pháp cũng là vấn đề về lý luận và thực tiễn đang được các nhà khoa học pháp lý, các luật gia nghiên cứu và cũng còn nhiều ý kiến khác nhau. Nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì tư pháp là xét xử và chỉ có Toà án mới có quyền xét xử, nhưng theo nghĩa rộng và theo quy định tại Điều 292 Bộ luật hình sự thì hoạt động tư pháp bao gồm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án. Nừu hoạt động tư pháp chỉ là hoạt động xét xử thì tên chương XXII Bộ luật hình sự cần phải sửa đổi là các tội xâm phạm hoạt động điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án, chứ không phải các tội xâm phạm hoạt động tư pháp. Vấn đề này sẽ được xem xét trong quá trình sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự theo tinh thần Nghị quyết số 49NQ/TW, ngày 02-6-2005 của Bộ Chính trị đề ra.

Chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp đa phần là người tiến hành tố tụng như: Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án; Cảnh sát tư pháp và Chấp hành viên. Ngoài ra còn có những người không phải là những người tiến hành tố tụng, không phải là Cảnh sát tư pháp hoặc Chấp hành viên, mà chỉ là công dân bình thường đối với một số tội như: không chấp hành án; khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật; từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu; mua chuộc, cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; vi phạm niêm phong, kê biên tài sản; trốn khỏi nơi giam giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử; đánh tháo người bị tạm giam, tạm giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử; che giấu tội phạm hoặc không tố giác tội phạm. Trong số những người này, đa số là người tham gia tố tụng.

Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp không chỉ xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của các cơ quan điều tra, kiểm sát, xét xử và thi hành án, mà còn xâm phạm đến quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, vì các quyền này được Nhà nước bảo vệ thông qua các cơ quan tư pháp, nhưng như vậy không có nghĩa khách thể của các tội phạm quy định trong chương XXII vừa xâm phạm đến hoạt động tư pháp, vừa xâm phạm đến quyền lợi của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, mà người phạm tội chỉ thông qua việc xâm phạm đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và của công dân để xâm phạm đến hoạt động tư pháp. Tuy nhiên, đối với từng tội phạm cụ thể người phạm tội xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích của cơ quan, tổ chức hoặc của công dân nhưng người phạm tội thông qua đó mà xâm phạm đến hoạt động tư pháp. Ví dụ: Tội dùng nhục hình, người phạm tội xâm phạm trực tiếp đến sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm của con người nhưng thông qua việc xâm phạm đó mà người phạm tội đã xâm phạm đến hoạt động tư pháp.

 

Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp cũng rất đa dạng, do đặc điểm về chủ thể của các tội xâm phạm hoạt động tư pháp không chỉ do những người tiến hành tố tụng thực hiện mà còn do những người khác thực hiện. Có thể chia hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp thành các nhóm sau:

 

- Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp của những người tiến hành tố tụng, của Chấp hành viên;

 

- Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp của những người trong các cơ quan trợ giúp các cơ quan tiến hành tố tụng như: giám định viên, phiên dịch hoặc những người trong các cơ quan, tổ chức có nghĩa vụ phải giúp đỡ các cơ quan tiến hành tố tụng;

 

- Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp của những người có nghĩa vụ phải thi hành các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng như: bị can, bị cáo, người bị tạm giữ, tạm giam, người bị kết án, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác có nghĩa vụ chấp hành các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng;

 

- Các hành vi xâm phạm hoạt động tư pháp của mọi công dân có nghĩa vụ phát hiện, tố giác tội phạm như: hành vi che giấu tội phạm, không tố giác tội phạm

 

Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp hầu hết được thực hiện do cố ý, chỉ có duy nhất một trường hợp do vô ý, đó là “thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn” quy định tại Điều 301 Bộ luật hình sự.

 

Người phạm tội thực hiện hành vi của mình với nhiều động cơ khác nhau như: vì thành tích, vì vụ lợi, vì thù tức, vì nể nang hoặc vì động cơ khác.

 

Các tội xâm phạm hoạt động tư pháp đã được quy định tại Chương X Bộ luật hình sự năm 1985 do yêu cầu của việc lành mạnh hoá hoạt động tư pháp, bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và mọi công dân; đề phòng những hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của những người tiến hành tố tụng trong các cơ quan tư pháp; cán bộ thi hành án trong cơ quan thi hành án; cảnh sát tư pháp, cảnh sát bảo vệ, cảnh sát dẫn giải, các trại tạm giam, trại giam và nhà tạm giữ. Tuy nhiên, các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể là những người tiến hành tố tụng như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó chánh án Toà án, Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân và Thư ký Toà án; của Cảnh sát tư pháp hoặc của Chấp hành viên thực tiễn xét xử không nhiều. Không phải các tội phạm này không xảy ra trong thực tế mà là do việc điều tra chứng minh rất khó khăn. Có lẽ đây là một đặc điểm nổi bật nhất đối với các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà chủ thể lại chính là những người trong các cơ quan tư pháp, có thẩm quyền trong hoạt động tư pháp. Ví dụ: Một Thẩm phán ra bản án trái pháp luật nhưng để chứng minh là họ cố ý thì không phải là đơn giản. Bị can, bị cáo khai là mình bị bức cung, bị nhục hình nhưng việc xác định họ có bị bức cung, bị nhục hình hay không cũng rất khó.v.v... Cũng chính vì việc chứng minh khó, nên thực tiễn xét xử đối với loại tội phạm này ít bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Đây cũng là một vấn đề xã hội đang quan tâm. Chưa có một công trình điều tra tội phạm học nào, nhưng ai cũng thấy tội phạm ẩn trong lĩnh vực tham nhũng và trong lĩnh vực hoạt động tư pháp còn cao. Có nhiều tội quy định trong chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (Chương XXII) trên thực tế có xảy ra nhưng, thậm chí xảy ra nhiều nhưng rất ít bị phát hiện và bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

So với Chương X Bộ luật hình sự năm 1985 thì các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại Chương XXII Bộ luật hình sự năm 1999 có nhiều sửa đổi, bổ sung. Một số hành vi trước đây chưa bị coi là tội phạm, thì Bộ luật hình sự năm 1999 quy định là tội phạm như: hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội; hành vi ra quyết định trái pháp luật của người có thẩm quyền trong Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Cơ quan thi hành án; hành vi đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 cũng loại trừ trách nhiệm hình sự một số hành vi mà Bộ luật hình sự năm 1985 quy định là tội phạm như: hành vi không tố giác tội phạm của ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội, (trừ hành vi không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội đặc biệt nghiêm trọng được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự ). Đối với các tội phạm cụ thể cũng được bổ sung các tình tiết là yếu tố định tội hoặc định khung hình phạt mà Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định. Về đường lối xử lý, nói chung các tội xâm phạm hoạt động tư pháp quy định tại chương XXII Bộ luật hình sự năm 1999 đều có mức hình phạt nặng hơn so với Bộ luật hình sự năm 1985. Hình phạt bổ sung được quy định ngay trong điều luật.

 

 

PHẦN THỨ HAI

 

 CÁC TỘI PHẠM CỤ THỂ

 

 

1. TỘI TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ NGƯỜI KHÔNG CÓ TỘI 

 

Điều 293.  Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội 

1.  Người nào có thẩm quyền mà truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là không có tội, thì bị phạt tù từ một năm đến  năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng hình sự đã khởi tố, kết luận điều tra, truy tố đối với người mà mình biết rõ là không có tội.

 

Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội chính là làm oan người vô tội. Nhưng không phải trường hợp làm oan người vô tội nào cũng là hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự hình sự người không có tội.

 

Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là tội phạm đã được quy định tại Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

So với Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 cấu tạo thành 2 khoản, còn Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 cấu tạo thành 4 khoản trong đó khoản 4 là hình phạt bổ sung, bổ sung thêm khoản 3 với tình tiết định khung hình phạt là “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”; khoản 2 của điều luật bổ sung tình tiết “truy cứu trách nhiệm hình sự về tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng”. Đặc biệt, cấu thành cơ bản của tội phạm này nhà làm luật sửa đổi chủ thể của tội phạm không chỉ có Điều tra viên, Kiểm sát viên mà đối với cả những người khác có thẩm quyền bao gồm những người tiến hành tố tụng; sửa đổi khái niệm “cố ý” bằng khái niệm “mà mình biết rõ là không có tội”. Vì khái niệm cố ý bao gồm cả cố ý trực tiếp và cố ý gián tiếp, nhưng khái niệm “biết rõ là không có tội” thể hiện sự cố ý rõ ràng hơn.

 

Về hình phạt, so với Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 nặng hơn nhiều. Nếu khoản 1 Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 có khung hình phạt từ sáu tháng đến ba năm, thì khoản 1 Điều 294 Bộ luật hình sự năm 1999 là từ một năm đến năm năm; nếu khoản 2 Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm, thì khoản 2 Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ ba năm đến mười năm, còn khoản 3 Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm. Việc nhà làm luật quy định mức hình phạt đối với tội phạm này nặng hơn so với trước đây là nhằm đáp ứng yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm đối với tội xâm phạm hoạt động tư pháp trong tình hình hiện nay.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người có thẩm quyền trong việc khởi tố bị can, kết luận điều tra, truy tố, mới là chủ thể của tội phạm này. Những người có thẩm quyền trong việc khởi tố bị can, kết luận điều tra, truy tố, bao gồm: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên.

 

Mặc dù Điều 293 Bộ luật hình sự 1999 đã sửa đổi chủ thể của tội phạm này không chỉ là Kiểm sát viên, Điều tra viên mà còn những người khác và nội dung của khái niệm truy cứu trách nhiệm hình sự không chỉ bao gồm hành vi khởi tố, kết luận điều tra, truy tố, mà còn bao gồm cả hành vi kết án của Thẩm phán và Hội thẩm, nhưng không vì thể mà cho rằng chủ thể của tội phạm này bao gồm cả Thẩm phán và Hội thẩm. Bởi lẽ, hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội của Thẩm phán và Hội thẩm đã được nhà làm luật quy định thành một tội độc lập (tội ra bản án trái pháp luật quy định tại Điều 295 Bộ luật hình sự). Do đó, đối với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội chỉ bao gồm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên.

 

Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, đối với Thẩm phán hoặc Hội thẩm mà kết án người mà mình biết rõ là không có tội thì phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội để phù hợp với nội dung khái niệm truy cứu trách nhiệm hình sự, còn đối với tội ra bản án trái pháp luật không bào gồm hành vi kết án người mà mình biết rõ là không có tội.

 

Đây là vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn xét xử ít được nhắc đến. Thực tiễn xét xử chưa có trường hợp nào Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân cố ý kết án người không có tội mà bị xét xử về tội “ra bản án trái pháp luật” cả, mà chỉ có một số trường hợp ra bản án dân sự, hôn nhân và gia đình trái pháp luật. Mặt khác, các cơ quan có thẩm thẩm quyền cũng chưa có gải thích hoặc hướng dẫn áp dụng chương XXII Bộ luật hình sự nên việc hiểu và nhận thức còn khác nhau là bình thường. Có thể vẫn còn ý kiến khác nhau về chủ thể của tội phạm này, nhưng theo chúng tôi thì chủ thể của tội “truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội” chỉ bao gồm Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên.

 

Khi xác định củ thể của tội phạm này cần chú ý:

 

Nếu Điều tra viên, Kiểm sát viên truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội theo quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, mặc dù trước đó đã báo cáo, đề xuất ý kiến “không khởi tố, không kết luận điều tra, không truy tố” nhưng không có ý kiến phản bác, bảo lưu hoặc báo cáo lên cấp trên mà vẫn đồng tình với quyết định của cấp trên thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội”. Tuy nhiên, khi xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này cũng cần xem xét đến mối quan hệ giữa Điều tra viên, Kiểm sát viên với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát. Nếu đó là mối quan hệ quá lệ thuộc, mà Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên không còn cách nào khác buộc phải chấp hành thì được coi là phạm tội do bị ép buộc, cưỡng bức và được xem xét nhẹ miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

 

Trường hợp Điều tra viên, Kiểm sát viên truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội theo quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, nhưng trước đó đã đề xuất ý kiến “không khởi tố, không kết luận điều tra, không truy tố” và đã bảo lưu ý kiến, đồng thời báo cáo lên Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên về ý kiến của mình thì không phạm tội này.

 

Trường hợp người có thẩm quyền như: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên khởi tố bị can, phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, ký bản kết luận điều tra, ký bản cáo trạng truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội nhưng không biết rõ người mà mình truy cứu trách nhiệm hình sự không có tội mà chỉ có Điều tra viên, Kiểm sát viên biết rõ là không có tội thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên không phải là chủ thể của tội phạm này, mà tuỳ trường hợp cụ thể họ có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 285 Bộ luật hình sự.

 

Những người tuy được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra trong các đơn vị như: Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, Hải quan, Kiểm lâm nhưng họ không thể là chủ thể của tội phạm này, vì những người này chỉ có quyền khởi tố vụ án, chứ không có quyền khởi tố bị can, mà khởi tố vụ án thì chưa nhằm vào bất cứ một con người cụ thể nào.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là tội trực tiếp xâm phạm đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng.

 

Một trong những nguyên tắc của Bộ luật hình sự đó là: “Chỉ người nào phạm một tội đã được Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” và Bộ luật tố tụng hình sự cũng có nguyên tắc: “Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án phải áp dụng mọi biện pháp hợp pháp để xác định sự thật của vụ án một cách khách quan, toàn diện và đầy đủ, làm rõ những chứng cứ xác định có tội và chứng cứ xác định vô tội, những tình tiết tăng nặng và những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo. Trách nhiệm chứng minh tội phạm thuộc về các cơ quan tiến hành tố tụng. Bị can, bị cáo có quyền nhưng không buộc phải chứng minh là mình vô tội”.

 

Tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là vi phạm nghiêm trọng nguyên tắc của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự. Làm oan người vô tội nếu chỉ do trình độ, nhận thức, năng lực của người tiến hành tố tụng đã làm ảnh hưởng lớn đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng và người vi phạm đã phải bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 285 Bộ luật hình sự; nếu lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý làm oan người vô tội thì không chỉ uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng bị mất mà ảnh hưởng đến cả một thể chế.

 

Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, trực tiếp xâm phạm đến danh dự của người bị oan và không ít trường hợp gây thiệt hại cho người bị oan về thể chất, về tài sản ảnh hưởng xấu đến nhiều mặt của đời sống xã hội.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan. Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan có thể bị thiệt hại đến tinh thần, thể chất, tài sản.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Người phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, có thể thực hiện một trong các hành vi sau:

 

Ra quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra, quyết định truy tố đối với người không có tội.

 

Một người được coi là không có tội nếu thuộc một trong các trường hợp quy định tại Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự, đó là: không có sự việc phạm tội; hành vi không cấu thành tội phạm; người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội chưa đến tuổi chịu trách nhiệm hình sự; người mà hành vi phạm tội của họ đã có bản án hoặc quyết định đình chỉ vụ án có hiệu lực pháp luật; đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự; tội phạm đã được đại xá1.

 

Phạm vi xác định hành vi khách quan của tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội được giới hạn bởi hành vi ra các quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra đề nghị Viện kiểm sát truy tố, quyết định truy tố (bản cáo trạng) của Viện kiểm sát đối với người không có tội. Tuy nhiên, để xác định hành vi khách quan thì cũng cần xác định hành vi khác có liên quan đến hành vi khách quan như:

 

Sau khi khởi tố bị can và trong quá trình hoạt động tố tụng người tiến hành tố tụng còn có những hành vi khác xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người không có tội như: ra lệnh tạm giam, gia hạn tạm giam, kê biên tài sản, phong toả tài khoản, thu giữ đồ vật…nhưng các hành vi này không phải là hành vi khách quan của cấu thành tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội mà đó chỉ là những thủ đoạn để phục vụ cho hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội. Tuy nhiên, nếu vụ án không có đồng phạm, mà người có thẩm quyền đã do thiếu trách nhiệm, không kiểm tra mà ra lệnh tạm giam, lệnh bắt tạm giam người không có tội theo sự đề xuất của người có hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội thì thuộc trường hợp phạm tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 285 Bộ luật hình sự; nếu lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà ra lệnh tạm giam, lệnh bắt tạm giam người không có tội thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật quy định tại Điều 303 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, nếu sau khi khởi tố bị can, mà vụ án có đồng phạm thì tất cả những hành vi trên, cũng như các hành vi bức cung, nhục hình, làm sai lệch hồ sơ vụ án, vi phạm niêm phong, kê biên tài sản, thu giữ đồ vật… chỉ là những thủ đoạn mà người phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội sử dụng để đạt được mục đích của mình mà thôi.

 

Trường hợp chưa khởi tố bị can mà người có thẩm quyền mới ra quyết định khởi tố vụ án thì chưa coi là hành vi phạm tội vì quyết định khởi tố vụ án chưa xác lập đối với một con người cụ thể mà mới chỉ xác lập một hiện tượng (tội phạm) tồn tại. Thông thường người có thẩm quyền ra quyết định khởi tố vụ án hình sự và liền sau đó ra quyết định khởi tố bị can (trong những trường hợp bắt người phạm tội quả tang hoặc bắt người trong trường hợp khẩn cấp), nhưng không ít trường hợp sau khi khởi tố vụ án (xác định có sự việc phạm tội) nhưng vì chưa biết ai là người thực hiện hành vi phạm tội nên chưa quyết định khởi tố bị can.

 

Trong hoạt động tố tụng hình sự ngoài những quyết định tố bị can, kết luận điều tra, quyết định truy tố thì còn có những quyết định có liên quan trực tiếp đến người không có tội như: ra lệnh bắt người trong trường hợp khẩn cấp; ra lệnh bắt người để tạm giam; quyết định áp dụng hoặc thay đổi các biện pháp ngăn chặn; quyết định kháng nghị theo hướng có tội khi Toà án tuyên bố không phạm tội; Kiểm sát viên luận tội và đề nghị Hội đồng xét xử kết án người không có tội.v.v… nhưng các quyết định này chỉ là những hành vi tố tụng trong quá trình tiến hành tố tụng chứ không phải là hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, nếu những người có thẩm quyền biết rõ người không có tội nhưng vẫn ra các quyết định trên thì tuỳ trường hợp mà họ có thể là người đồng phạm với người có hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hoặc họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm tương ứng như: tội bắt giữ hoặc giam người trái pháp luật.

 

Mặc dù điều luật không quy định, nhưng người phạm tội này nhất thiết phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn để truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội. Nếu không lợi dụng chức vụ, quyền hạn thì không thể truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội được. Nhà làm luật không quy định dấu hiệu này trong điều luật không phải là thiếu sót mà là không cần thiết, vì khi xác định chủ thể của tội phạm này đã thể hiện dấu hiệu này. Người có thẩm quyền trong việc truy cứu trách nhiệm hình sự ngoài Chánh án, Phó chánh án, Thẩm phán, Hội thẩm (chủ thể của tội ra bản án trái pháp luật), thì chỉ có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Điều tra viên và Kiểm sát viên. Những người này đều là người có chức vụ, quyền hạn và muốn truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội được thì nhất thiết hoặc phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Tuy nhiên, nếu hậu quả xảy ra thì tuỳ trường hợp, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

 

Hậu quả do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là những thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, tài sản, danh dự của người bị oan; làm mất uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng mà trực tiếp là cơ quan mà người phạm tội công tác; những thiệt hại về vật chất do phải minh oan, xin lỗi, bồi thường thiệt hại cho người bị oan và những thiệt hại khác cho xã hội.

 

 

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Điều luật không quy định dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, để xác định hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự của người có thẩm quyền đã cấu thành tội phạm này hay không cần xác định thế nào là người được coi là không có tội. Đây là vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn xét xử cũng có nhiều ý kiến khác nhau.

 

Nếu theo quy định tại Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự thì không ai bị coi là có tội và phải chịu hình phạt khi chưa có bản án kết tội của Toà án đã có hiệu lực pháp luật. Nếu căn cứ vào quy định này thì hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội chỉ xảy ra sau khi bản án đã có hiệu lực pháp luật, vì trước khi bản án có hiệu lực pháp luật thì đã ai biết là một người có tội hay không có tội.

 

Điều 293 Bộ luật hình sự quy định “biết rõ người không có tội”, còn Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự quy định “bị coi là có tội”. Người không có tội và người bị coi là có tội là hai vấn đề hoàn toàn khác nhau. Người không có tội quy định tại Điều 293 Bộ luật hình sự là người mà theo quy định tại Điều 8 Bộ luật hình sự không phải là tội phạm, còn Điều 9 Bộ luật tố tụng hình sự quy định tính chất pháp lý, xã hội đối với quyền con người. Một người không có tội tức là họ không thực hiện hành vi phạm tội hoặc nếu có thực hiện hành vi nhưng hành vi đó không cấu thành tội phạm, còn một người không bị coi là có tội là người chưa bị Toà án kết án và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật nhưng họ vẫn có thể là người thực hiện hành vi phạm tội.

 

Truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội có thể chỉ truy cứu một hoặc một số tội phạm mà họ không thực hiện còn các tội phạm khác họ thực hiện vẫn truy cứu. Ví dụ: A chỉ phạm tội trộm cắp tài sản nhưng lại bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả tội cướp tài sản mà tội phạm này A không tngười thi hành công vụ hiện.

   

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.2

 

Điều luật quy định “biết rõ là không có tội” tức là, người phạm tội phải biết rõ người mà mình truy cứu trách nhiệm hình sự là không có tội; nếu do trình độ nghiệp vụ non kém hoặc vì lý do khách quan khác mà người có thẩm quyền truy cứu trách nhiệm hình sự một người mà không biết rõ không có tội thì không phạm tội này.

 

Thực tiễn xét xử cho thấy hầu hết các trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người không thực hiện hành vi phạm tội hoặc hành vi của họ không cấu thành tội phạm, những người có thẩm quyền thường nêu lý do khách quan hoặc nếu do chủ quan thì cũng chỉ thừa nhận là do trình độ, do nhận thức khác nhau về các yếu tố cấu thành tội phạm. Do đó việc xác định người có thẩm quyền biết rõ một người không có tội mà vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự là một vấn đề rất khó; người làm oan người vô tội chẳng bao giờ thừa nhận là mình biết rõ không có tội mà vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự. Sau khi có Nghị quyết số 388/2003/NQ-UBTVQH11 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, các cơ quan tiến hành tố tụng đã phải bồi thường cho nhiều trường hợp bị oan, nhưng chưa có trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội”, mà chỉ xử lý kỷ luật đối với người tiến hành tố tụng, thậm chí không xử lý được người tiến hành tố tụng đã làm oan người vô tội, vì không chứng minh được hành vi của họ là cố ý truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội.

 

Vậy làm thế nào để chứng minh người có thẩm quyền biết rõ người mà mình truy cứu trách nhiệm hình sự là người không có tội ? Đây là việc khó, nhưng không phải khó tới mức không chứng minh được. Phương pháp khoa học nhất là căn cứ vào hành vi khách quan của người phạm tội để xác định ý thức chủ quan của họ. Không phải chỉ đối với tội phạm này, mà đối với nhiều tội phạm khác, rất ít trường hợp người phạm tội nhận là mình biết rõ, nên phải căn cứ vào hành vi khách quan cụ thể mà người đó thực hiện để xác định ý thức chủ quan của người phạm tội.

 

 Ví dụ:  Tháng 9-1995, vợ chồng chị Nguyễn Thị H và chồng thế chấp ngôi nhà cho Ngân hàng vay 130.000.000 đồng kinh doanh. Tháng 12-1995, chị Nguyễn Thị H ly hôn với chồng. Theo quyết định của Toà án thì chị Nguyễn Thị H được giao sở hữu ngôi nhà và phải thanh toán nợ cho Ngân hàng. Được sự đồng ý của Ngân hàng, chị Nguyễn Thị H bán ngôi nhà cho ông Đặng Đình L, Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh. Theo chị Nguyễn Thị H, thì giá mua bán nhà là 224.000.000 đồng, nhưng vì ông Đặng Đình L muốn được giảm tiền thuế chuyển quyền sở hữu nhà nên hai bên thống nhất ghi giá bán nhà trong hợp đồng là 179.000.000 đồng, còn nợ 45.000.000 đồng có giấy nhận nợ của ông L. Sau khi trả đủ 179.000.000 đồng cho chị Nguyễn Thị H, ông Đặng Đình L tiến hành việc làm thủ tục sang tên, thì chị Nguyễn Thị H không đồng ý với lý do ông L chưa trả hết tiền. Do không nhận được nhà, nên ngày 12-6-1996 ông Đặng Đình L gửi đơn đến Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh xin huỷ hợp đồng mua bán nhà. Trong quá trình giải quyết tranh chấp việc mua bán nhà giữa chị H với ông L, do không thống nhất với nhau về giá nhà nên ông L đề nghị Cơ quan điều tra Công an tỉnh xử lý chị H về hình sự. Theo đề nghị của ông L, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh đã khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can và bắt tạm giam đối với chị Nguyễn Thị H về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của công dân. Toà án cấp sơ thẩm đã căn cứ vào Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh truy tố chị Nguyễn Thị H về tội “lừa đảo chiếm đoạt tài sản”nên đã kết án chị H 4 năm tù về tội này. Theo chị H thì sau khi xét xử sơ thẩm, chị có làm đơn kháng cáo kêu oan, nhưng ông L vào trong trại tạm giam gặp chị hăm doạ: “nếu chống án sẽ bị tăng hình phạt lên 8 năm tù”. Do không am hiểu pháp luật và sợ ông L là người trong cơ quan pháp luật nên chị H đã rút đơn kháng cáo. Sau khi chấp hành xong hình phạt tù, chị H làm đơn kêu oan và Toà án nhân dân tối cao đã minh oan cho chị H.

 

Đây là vụ án có nhiều dấu hiệu của tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, nhưng việc chứng minh ý thức chủ quan của người tiến hành tố tụng không đơn giản. Nếu căn cứ vào một số tình tiết khách quan của vụ án thì có thể thấy việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với chị H là không bình thường như: ông L là Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, có trình độ và thông tỏ pháp luật sao lại gửi đơn cho Cơ quan điều tra xin huỷ hợp đồng mua bán nhà, mà lẽ ra việc này một người dân bình thường cũng biết là phải gửi đơn cho Toà án; về phía cán bộ điều tra khi nhận đơn của ông L biết rõ là không thuộc thẩm quyền giải quyết của mình nhưng vẫn thụ lý giải quyết, khi giải quyết không được thì khởi tố hình sự. Và nếu đúng như chị H tố cáo thì sau khi xét xử sơ thẩm, tại sao ông L lại vào được trại tạm giam để hăm doạ chị H buộc chị phải rút đơn kháng cáo ? Các tình tiết này, nếu được chứng minh làm rõ thì có thể khẳng định những người tiến hành tố tụng trong vụ án này biết rõ chị H không có tội nhưng vẫn truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Biết rõ người mà mình truy cứu trách nhiệm hình sự không có tội không có nghĩa là phải biết rõ người bị truy cứu trách nhiệm hình sự không phạm tội gì quy định ở điều luật nào của Bộ luật hình sự, mà chỉ cần người phạm tội biết rõ người mà mình truy cứu trách nhiệm hình sự là người không có tội là thoả mãn dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội phạm này rồi.

 

Trường hợp khi khởi tố bị can, người phạm tội chưa biết rõ người mà mình khởi tố không có tội, nhưng trong quá trình điều tra, kết quả điều tra cho thấy người mà mình đã khởi tố là người không có tội, nhưng vẫn kết luận điều tra xác định người đó có tội và đề nghị Viện kiểm sát truy tố thì cũng bị coi là biết rõ người mà mình truy cứu trách nhiệm hình sự là người không có tội.

 

Người phạm tội có thể vì động cơ khác nhau, trong đó có cả động cơ vì thành tích cá nhân hoặc vì thành tích của đơn vị như: Sau khi khởi tố bị can, tiến hành điều tra thấy bị can không có tội nhưng đơn vị đang được đề nghị tặng thưởng Huân chương, nên không ra quyết định đình chỉ vụ án, mà vẫn kết luận điều tra, chuyển Viện kiểm sát đề nghị truy tố người mà mình biết rõ là không có tội. Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này; nếu vì động xấu như: vì tiền, để trả thù hoặc động cơ cá nhân khác thì mức hình phạt áp dụng đối với người phạm tội cao hơn người phạm tội vì động cơ thành tích cá nhân hoặc của tập thể, của đơn vị.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 293 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ một năm đến năm năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Do tính chất nghiêm trọng của tội phạm này nên ngay khoản 1 của điều luật nhà làm luật đã quy định là tội phạm nghiêm trọng. Do đó, cần phải xử lý nghiêm đối với người phạm tội.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội “truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội” theo khoản 1 Điều 293 Bộ luật hình sự, Toà án cần căn cứ vào các quy định về quyết định hình phạt tại Chương VII Bộ luật hình sự (từ Điều 45 đến Điều 54).3

 

Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, phạm tội vì thành tích, vì bị cưỡng bức, đe doạ hoặc do bị lệ thuộc vào người có chức vụ, quyền hạn nên phải miễn cưỡng chấp hành mệnh lệnh sai trái của người này, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt dưới một năm tù, nhưng không được dưới ba tháng tù vì đối với hình phạt tù mức thấp nhất là ba tháng. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, phạm tội với động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc tuy có tình tiết giảm nhẹ nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến năm năm tù.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 293 Bộ luật hình sự

 

a. Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng;

 

Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia là biết rõ là người mà mình truy cứu trách nhiệm hình sự không phạm các tội quy định tại Chương XI (từ Điều 78 đến Điều 91) Bộ luật hình sự như: tội phản bội tổ quốc; tội hoạt động nhằm lật đổ nhằm lật đỏ chính quyền nhân dân; tội gián điệp; tội xâm phạm an ninh lãnh thổ; tội bạo loạn; tội hoạt động phỉ; tội khủng bố .v.v…

 

Truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đặc biệt nghiêm trọng là biết rõ là người mà mình truy cứu trách nhiệm hình sự không phạm tội là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự, thì tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình. Việc xác định tình tiết phạm tội này chỉ cần căn cứ vào quyết định khởi tố bị can, kết luận điều tra hoặc bản cáo trạng xem tội phạm mà người không có tội bị khởi tố, kết luận điều tra hoăc quyết định truy tố thuộc trường hợp quy định tại điều luật nào của Bộ luật hình sự là có thể xác định tội phạm đó có phải là tội đặc biệt nghiêm trọng hay không. Ví dụ: Trong quyết định khởi tố bị can có ghi: “khởi tố bị can đối với Nguyễn Văn T về tội hiếp dâm trẻ em theo khoản 4 Điều 112 Bộ luật hình sự” là người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm a khoản 2 Điều 293 Bộ luật hình sự rồi.

 

Tuy nhiên, việc xác định tội phạm nào là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng lại phải căn cứ vào khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự. Theo quy định tại khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự thì trong các điều luật của Bộ luật hình sự, trừ các điều từ Điều 341 đến Điều 343 về các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh là tội phạm tội đặc biệt nghiêm trọng, thì còn lại một số điều luật khác chỉ có một hoặc hai trường hợp là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng như: Điều 93, khoản 1 (tội giết người); Điều 111, các khoản 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 112, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 114, khoản 3 (tội cưỡng dâm trẻ em); Điều 119, khoản 2 (tội mua bán phụ nữ); Điều 120, khoản 2 (tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em); Điều 133, các khoản 3 và 4 (tội cướp tài sản); Điều 134, các khoản 3 và 4 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 138, khoản 4 (tội trộm cắp tài sản); Điều 139, khoản 4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 140, khoản 4 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điều 143,  khoản 4 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); Điều 153, các khoản 4 (tội buôn lậu); Điều 157, các khoản 3 và 4 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 165, khoản 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 179, khoản 3 (tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng); Điều 180, khoản 3 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả); Điều 181, khoản 3  (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác);Điều 193, các khoản 3 và 4 (tội sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 194, các khoản 3 và 4 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý); Điều 195, các khoản 3 và 4 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 197,các khoản 3 và 4 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 200, các khoản 3 và 4 (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 201, các khoản và 4 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác); Điều 206, khoản 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 221, các khoản 2 và 3  (tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ); Điều 230, khoản 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 231, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 232, khoản 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ); Điều 236, khoản 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ); Điều 238,  khoản 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán  trái phép chất cháy, chất độc); Điều 278, các khoản 3 và 4 (tội tham ô tài sản); Điều 279, các 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 280, các khoản 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản); Điều 282,  khoản 3 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 283, các khoản 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi); Điều 284, khoản 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 289, các khoản 3 và 4 (tội đưa hối lộ); Điều 290, khoản 4 (tội làm môi giới hối lộ).v.v…

 

b. Gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Cho đến nay chưa có giải thích hoặc hướng dẫn của các cơ quan có thẩm quyền, thế nào là gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội gây ra nên có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôic cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội gây ra. Tuy nhiên, do tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội này khác với các tội xâm phạm sở hữu, nên hậu quả nghiêm trọng do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội gây ra không giống với hậu quả do hành vi xâm phạm sở hữu gây ra. Trong khi chưa có hướng dẫn chính thức, theo chúng tôi có thể coi hậu quả nghiêm trọng do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội gây ra nếu4:

 

- Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan và đã bị Toà án phạt tù đến năm năm và đang bị chấp hành hình phạt;

 

- Người không có tội bị giam, giữ dẫn đến suy kiệt sức khoẻ có tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

 

- Do bị khởi tố, bị bắt giam nên mất việc làm, mất thu nhập chính ảnh hưởng đến cuộc sống gia đình người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan;

 

- Người phạm tội đã gây thiệt hại cho người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan từ 50 triệu đến 100 triệu đồng;

 

Ngoài các thiệt hại về sức khoẻ và tài sản người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan còn có thể bị thiệt hại đến danh dự, nhân phẩm như: do bị khởi tố, truy tố nên họ bị cách chức, bị tước danh hiệu Công an nhân dân, Quân dội nhân dân, bị khai trừ ra khỏi Đảng tước các danh hiệu cao quý mà Nhà nước đã phong tặng như: danh hiệu anh hùng lao động, chiến sĩ thi đua toàn quốc, Nghệ sĩ nhân dân, Nghệ sĩ ưu tú, Nhà giáo nhân dân, Nhà giáo ưu tú.v.v…

 

Ngoài ra, người phạm tội còn có thể gây ra những hậu quả khác như có ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đến uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng...thì tuỳ từng trường hợp mà xác định hậu quả do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội đã là nghiêm trọng.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 293 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ ba năm đến mười năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật, phạm tội vì thành tích, vì bị cưỡng bức, đe doạ hoặc do bị lệ thuộc vào người có chức vụ, quyền hạn nên phải miễn cưỡng chấp hành mệnh lệnh sai trái của người này và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, phạm tội thuộc một trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật thì Toà án có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới ba năm tù, nhưng không được dưới một năm tù.

 

 Nếu phạm tội thuộc cả hai tình tiết quy định tại khoản 2 của điều luật, phạm tội vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể thì người phạm tội có thể bị phạt đến mười năm tù.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 293 Bộ luật hình sự

 

Khoản 3 của điều luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, nhưng tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội lại rất khác nhau, đó là gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Đây không phải trường hợp duy nhất, mà trong một số tội phạm nhà làm luật cũng quy định hai tình tiết này cùng trong một khung hình phạt.

 

Tương tự như trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cũng có đặc thù riêng không giống với các trường hợp phạm tội khác gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Trong khi chưa có hướng dẫn chính thức, theo chúng tôi có thể coi hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội gây ra nếu:

 

- Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan bị phạt tù từ năm năm đến dưới mười lăm năm và đã chấp hành hình phạt tù trên năm năm;

 

- Người không có tội bị giam, giữ dẫn đến suy kiệt sức khoẻ có tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

 

- Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan và bị phạt tù đến năm năm và đã chấp hành xong hình phạt tù;

 

- Người phạm tội đã gây thiệt hại cho người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan từ 100 triệu đến 200 triệu đồng;

 

Nếu thuộc một trong các trường hợp sau thì co là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:

 

- Người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm, tù chung thân và đã chấp hành hình phạt tù trên mười năm;

 

- Người không có tội do uất ức đã tự sát hoặc bị giam, giữ dẫn đến tử vong hoặc đã bị thi hành án tử hình oan;

 

- Người phạm tội đã gây thiệt hại cho người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan trên 200 triệu đồng;

 

Ngoài các thiệt hại về sức khoẻ, tính mạng và tài sản, người bị truy cứu trách nhiệm hình sự oan còn có thể bị thiệt hại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đến danh dự, nhân phẩm hoặc gây ra những hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng khác đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội, đến uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng...thì tuỳ từng trường hợp mà xác định hậu quả do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 293 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm, cũng là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng; phạm tội vì thành tích, vì bị cưỡng bức, đe doạ hoặc do bị lệ thuộc vào người có chức vụ, quyền hạn nên phải miễn cưỡng chấp hành mệnh lệnh sai trái của người này; không có tình tiết quy định tại điểm a khoản 2 của điều luật và người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới bảy năm tù nhưng không được dưới ba năm.

 

 Nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có tình tiết quy định tại điểm a khoản 2 của điều luật và người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười lăm năm tù.

 

Mặc dù so với Điều 231 Bộ luật hình sự năm 1985 thì khoản 3 Điều 293 Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định hình phạt nghiêm khắc hơn nhiều, nhưng so với yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong tình hình hiện nay thì theo chúng tôi, mức cao nhất của khung hình phạt theo khoản 3 Điều 293 Bộ luật hình sự chỉ có mười lăm năm năm tù là chưa tương xứng. Giả thiết có trường hợp  vì trả thù cá nhân nên đã truy cứu trách nhiệm hình sự oan một người phạm tội giết người bị Toà án kết án tử hình và hình phạt tử hình đó đã được thi hành thì mức hình phạt đối với với truy cứu trách nhiệm hình sự oan người bị tử hình tối đa là mười lăm năm tù là không tương xứng. Hy vọng rằng, khi có chủ trương sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 vẫn đề này sẽ được Quốc hội lưu ý xem xét.

 

4. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

 Khi áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định đối với người phạm tội cần chú ý:

 

Tuỳ thuộc vào chức vụ cụ thể của người phạm tội mà cấm đảm nhiệm chức vụ chứ không cấm đảm nhiệm chức vụ một cách chung chung. Ví dụ: nếu người phạm tội là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra thì có thể cấm đảm nhiệm chức vụ này và chức vụ Điều tra viên hoặc ngược lại, mà không chỉ cấm đảm nhiệm chức vụ Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra vì nếu chỉ cấm các chức vụ này thì họ vẫn có thể làm Điều tra viên và nhiệm vụ của Điều tra viên cũng liên quan đến hoạt động điều tra. Về lý thuyết là như vậy, còn thực tế nếu những người tiến hành tố tụng đã phạm tội này thì cũng khó có thể tiếp tục được công tác trong các cơ quan tiến hành tố tụng, nên việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với họ cũng chỉ có tính chất hình thức.

 

 

2. TỘI KHÔNG TRUY CỨU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ NGƯỜI CÓ TỘI 

 

Điều 294. Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội 

1. Người nào có thẩm quyền mà không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a)  Không truy cứu trách nhiệm hình sự người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng không khởi tố, không truy tố người mà mình biết rõ là có tội.

 

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là tội phạm mới chưa được quy định tại Bộ luật hình sự năm 1985, do yêu cầu đấu tranh phòng chống tình trạng bỏ lọt tội phạm và người phạm tội nên nhà làm luật quy định hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là tội phạm là đáp ứng yêu cầu trên. Tuy nhiên, từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực pháp luật đến nay cũng chưa đưa ra xét xử được vụ án nào về tội phạm này. Trong vụ án Năm Cam cũng có một số trường hợp bỏ lọt tội phạm có dấu hiệu của tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội nhưng cũng chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ, tội làm sai lệch hơ vụ án hoặc tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng. Cũng như đối với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, việc chứng minh hành vi phạm tội và truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội này cũng gặp rất nhiều khó khăn. 

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

Có thể nói, tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là tội phạm đối lập với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, là mặt trái, mặt ngược lại đối với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội. Do đó các dấu hiệu của cấu thành tội phạm này cũng tương tự như đối với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, chỉ khác nhau ở ý thức chủ quan của người phạm tội. Nếu Điều 293 quy định “biết rõ là không có tội” thì Điều 294 quy định “biết rõ là có tội”. Tuy nhiên, để xác định người có thẩm quyền biết rõ một người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội là tội phạm, trong nhiều trường hợp không đơn giản, nó phụ thuộc vào trình độ, năng lực, kinh nghiệm nghề nghiệp của người có thẩm quyền. Nhiều vụ án bị bỏ lọt tội phạm hoặc người phạm tội là do quan điểm khác nhau về đánh giá chứng cứ giữa cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng với nhau; cùng một hành vi nhưng người này thì cho là có tội, còn người khác thì cho rằng không có tội. Do đó đối với loại tội phạm này, chủ yếu căn cứ vào động cơ của người phạm tội để xác định hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội đã là hành vi phạm tội chưa.      

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này tương tự như chủ thể của tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội bao gồm: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên.

 

Ngoài những người trên, đối với người phạm tội ít nghiêm trọng còn có thể còn có người có thẩm quyền của Bộ đội biên phòng, Hải quan. Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân dội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự. Đây là đặc điểm khác với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, vì truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội thì chỉ những người có thẩm quyền như: là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên, mới thực hiện được, nhưng đối với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội thì không chỉ những người trên, mà còn cả những người có trách nhiệm trong việc phát hiện, bắt giữ tội phạm nhưng đã cố tình bỏ lọt tội phạm, bởi vì nếu không bắt giữ, không khởi tố vụ án thì những người có thẩm quyền sẽ không khởi tố bị can được.

 

Cũng như đối với chủ thể của tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, không bao gồm Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhân dân.

 

Trường hợp, Điều tra viên, Kiểm sát viên cố tình không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội theo mệnh lệnh của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, mặc dù trước đó đã báo cáo, đề xuất ý kiến “phải khởi tố, phải kết luận điều tra, phải truy tố” nhưng không có ý kiến phản bác, bảo lưu hoặc báo cáo lên cấp trên mà vẫn đồng tình với quyết định của cấp trên thì vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “ không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội”. Tuy nhiên, khi xem xét để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người này cũng cần xem xét đến mối quan hệ giữa họ với Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát. Nếu đó là mối quan hệ quá lệ thuộc, mà Điều tra viên hoặc Kiểm sát viên không còn cách nào khác buộc phải chấp hành thì được coi là phạm tội do bị ép buộc, cưỡng bức và được xem xét nhẹ miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

 

Trường hợp Điều tra viên, Kiểm sát viên cố tình không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội theo quyết định của Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, nhưng trước đó đã đề xuất ý kiến “phải khởi tố, phải kết luận điều tra, phải truy tố” và đã bảo lưu ý kiến, đồng thời báo cáo lên Thủ trưởng Cơ quan điều tra cấp trên hoặc Viện trưởng Viện kiểm sát cấp trên về ý kiến của mình thì không phạm tội này.

 

Trường hợp người có thẩm quyền như: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can, không phê chuẩn quyết định khởi tố bị can, không ký bản kết luận điều tra, không ra bản cáo trạng truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội nhưng không biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là có tội mà chỉ có Điều tra viên, Kiểm sát viên biết rõ là có tội thì Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên không phải là chủ thể của tội phạm này, mà tuỳ trường hợp cụ thể họ có thể bị xử lý kỷ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 285 Bộ luật hình sự.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là tội phạm không chỉ xâm phạm đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng, mà còn xâm phạm đến nguyên tắc xử lý “mọi hành vi phạm tội phải bị phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh”. Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là việc cố ý bỏ lọt tội phạm và do đó còn xâm phạm đến các lợi ích của Nhà nước, xã hội và của công dân. Tuy nhiên, về chính sách hình sự, hành vi bỏ lọt tội phạm không bị coi là nguy hiểm như hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội. Điều này thể hiện ở mức hình phạt quy định trong khung hình phạt của điều luật. Mức hình phạt cao nhất của tội phạm này là 12 năm tù, trong khi đó mức hình phạt cao nhất của tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là 15 năm tù.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Người phạm tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, có thể thực hiện một trong các hành vi sau:

 

Thủ trưởng hoặc Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra ra quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can, không kết luận điều tra vụ án; ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ điều tra đối với người mà mình biết rõ là có tội.

 

Điều tra viên không lập hồ sơ vụ án; không triệu tập bị can hoặc có triệu tập nhưng không tiến hành hỏi cung bị can và những người tham gia tố tụng khác; không quyết định áp giải bị can; không thi hành lệnh bắt, tạm giữ, tạm giam, khám xét, thu giữ, tạm giữ; không tiến hành khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, đối chất, nhận dạng, thực nhiệm điều tra; không tiến hành các hoạt động điều tra theo sự phân công của Thủ trưởng Cơ quan điều tra.

 

Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát ra quyết định không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can; ra quyết định tạm đình chỉ hoặc đình chỉ vụ án; quyết định không phục hồi điều tra; quyết định không phê chuẩn các quyết định của Cơ quan điều tra; không yêu cầu Cơ quan điều tra thay đổi quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can; không quyết định việc truy tố.

 

Kiểm sát viên không kiểm sát việc khởi tố, không kiểm sát các hoạt động điều tra và việc lập hồ sơ vụ án của Cơ quan điều tra; không đề ra yêu cầu điều tra; không triệu tập và hỏi cung bị can; không triệu tập và lấy lời khai của người làm chứng, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án; không kiểm sát việc bắt, tạm giữ, tạm giam; không tham gia phiên toà; không đọc cáo trạng, quyết định của Viện kiểm sát liên quan đến việc giải quyết vụ án; không hỏi, đưa ra chứng cứ và thực hiện việc luận tội.

 

Trong các hành vi trên của người tiến hành tố tụng, có thể có hành vi chỉ là hành vi vi phạm tố tụng, nhưng nếu các hành vi đó đều nhằm mục đích để lọt người phạm tội hoặc để lọt tội phạm thì người tiến hành tố tụng vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội.

 

Khác với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, đối với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội bao gồm cả hành vi không khởi tố vụ án của người có thẩm quyền, vì nếu không khởi tố vụ án thì cũng không có căn cứ để khởi tố bị can. Tuy nhiên, hành vi không khởi vụ án chỉ cấu thành tội phạm khi hành vi đó liền ngay trước hành vi khởi tố bị can, nếu không khởi tố vụ án thì không thể khởi tố bị can được; nếu chưa xác định được bị can mà không khởi tố vụ án hoặc hành vi không khởi tố vụ án của những người chỉ có thẩm quyền khởi tố vụ án, chứ không có thẩm quyền khởi tố bị can thì không cấu thành tội phạm này như: những người có thẩm quyền của Bộ đội biên phòng, Hải quan. Kiểm lâm, lực lượng Cảnh sát biển và cơ quan khác của Công an nhân dân, Quân dội nhân dân được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra quy định tại Điều 111 Bộ luật tố tụng hình sự (trừ trường hợp những người có thẩm quyền trong các cơ quan này được khởi tố bị can đối với tội phạm ít nghiêm trọng); Hội đồng xét xử khởi tố vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự. Nếu những người này không khởi tố vụ án thì những người có thẩm quyền như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Điều tra viên, Kiểm sát viên vẫn có quyền khởi tố vụ án, khởi tố bị can.

 

Trường hợp cố tình không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội bằng cách lấy bớt hoặc thêm vào hồ sơ vụ án những tài liệu làm tình tiết gỡ tội cho người phạm tội hoặc sửa chữa tài liệu trong hồ sơ vụ án để làm căn cứ đình chỉ vụ án đối với người có tội thì người có hành vi này bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm sai lệch hồ sơ vụ án theo quy định tại Điều 300 Bộ luật hình sự, vì hành vi này được quy định thành một tội độc lập và tội làm sai lệch hồ sơ vụ án là tội nặng hơn so với tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Tuy nhiên, nếu hậu quả xảy ra thì tuỳ trường hợp, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Cũng như đối với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, điều luật không quy định dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm, nhưng việc xác định thế nào là người có tội là vấn đề rất cần thiết khi xác định hành vi phạm tội.

 

Người có tội với người bị coi là có tội là khác nhau. Người có tội là người thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật hình sự, do người có năng lực trách nhiệm hình sự thực hiện một cách cố ý hoặc vô ý, xâm phạm độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ Tổ quốc, xâm phạm chế độ chính trị, chế độ kinh tế, nền văn hoá, quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của công dân, xâm phạm những lĩnh vực khác của trật tự pháp luật xã hội  chủ nghĩa.

 

Có tội là một hiện tượng khách quan và theo quy định của Bộ luật hình sự thì hành vi đó đã cấu thành tội phạm, còn người bị coi là có tội là người bị Toà án kết án bằng một bản án và bản án đó đã có hiệu lực pháp luật; trong số những người bị Toà án kết án có thể có người không có tội, nhưng về mặt pháp lý thì người đó vẫn bị coi là có tội.

 

Không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội có thể không truy cứu tất cả các tội phạm mà họ thực hiện hoặc chỉ không truy cứu một hoặc một số tội phạm mà họ thực hiện còn các tội phạm khác vẫn truy cứu. Ví dụ: A phạm tội tội giết người và tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng, nhưng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ trái phép vũ khí quân dụng còn tội giết người thì không bị truy cứu.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của người mà mình không truy cứu là hành vi phạm tội, nhưng cố tình không truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Điều luật quy định “biết rõ là có tội” tức là, người phạm tội phải biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là có tội; nếu vì lý do khách quan hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém mà người có thẩm quyền không biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là có tội, thì cũng không phạm tội này.

 

Biết rõ là có tội là tự bản thân người có thẩm quyền biết, nhưng cũng có trường hợp do người khác nói cho biết, nhưng vẫn cố tình không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội. Đây là vấn đề phức tạp không phải mọi trường hợp đều xác định được ý thức chủ quan của người phạm tội. Thông thường, khi đã có chủ ý không truy cứu trách nhiệm hình sự người mà mình biết rõ là có tội, người phạm tội thường đổ lỗi do trình độ, do nhận thức và theo họ thì không có tội.

 

 Trường hợp Viện kiểm sát, hoặc Toà án trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung vì còn lọt người lọt tội hoặc phải truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng hơn, nhưng Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát vẫn giữ quan điểm không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người mà Viện kiểm sát hoặc Toà án cho là có tội. Trong số này có nhiều trường hợp Toà án cấp giám đốc thẩm phải huỷ bản án để điều tra, truy tố lại nhằm truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có tội mà Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát không truy cứu trách nhiệm hình sự. Vậy đối với trường hợp này, có coi hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự của người có thẩm quyền của Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát là hành vi biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là có tội hay không ? Thực tiễn xét xử chưa có trường hợp nào tương tự bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, vì người có thẩm quyền trong Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát đều lấy lý do là do trình độ, do nhận thức chứ không phải cố ý. Tuy nhiên theo chúng tôi, với tinh thần cải cách tư pháp hiện nay, nếu có căn cứ xác định người có thẩm quyền đã biết rõ người mà mình không truy cứu trách nhiệm hình sự là người có tội mà vin vào trình độ hoặc dùng “quyền” của mình để không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội đã được cấp giám đốc thẩm kết luận là có tội thì cũng cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự dv những người này về tội “không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội” mới có tác dụng đấu tranh phòng chống loại tội phạm này trong tình thình hiện nay.

 

Nếu người có thẩm quyền do thiếu trách nhiệm không kiểm tra, để cho cấp dưới báo cáo sai dẫn đến không quyết định khởi tố, kết luận điều tra hoặc không truy tố người có tội mà gây hậu quả nghiêm trọng thì tuỳ trường hợp có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng theo Điều 285 Bộ luật hình sự. Ví dụ: Nguyễn Mạnh T là Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an thành phố H đã không kiểm tra, chỉ nghe Điều tra viên Phạm Viết X báo cáo sai sự thật về các tình tiết của vụ án nên đã ra quyết định đình chỉ vụ án đối với Vũ Đình H cùng với một số tên khác giết một chiến sĩ cảnh sát.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 294 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 294 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội theo khoản 1 Điều 294 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt dưới sáu tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 294 Bộ luật hình sự

 

a. Không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng;

 

Không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia là trường hợp biết rõ một người đã có hành vi phạm một trong các tội quy định từ Điều 78 đến Điều 91 Bộ luật hình sự mà không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can, không kết luận điều tra hoặc không lập cáo trạng truy tố người có hành vi phạm tội.

 

Không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đặc biệt nghiêm trọng là trường hợp biết rõ một người đã có hành vi phạm tội thuộc trường hợp có mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình mà không khởi tố vụ án, không khởi tố bị can, không kết luận điều tra hoặc không lập cáo trạng truy tố người có hành vi phạm tội. Ví dụ: Điều 93, khoản 1 (tội giết người); Điều 111, các khoản 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 112, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 114, khoản 3 (tội cưỡng dâm trẻ em); Điều 119, khoản 2 (tội mua bán phụ nữ); Điều 120, khoản 2 (tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em); Điều 133, các khoản 3 và 4 (tội cướp tài sản); Điều 134, các khoản 3 và 4 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 138, khoản 4 (tội trộm cắp tài sản); Điều 139, khoản 4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 140, khoản 4 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điều 143,  khoản 4 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); Điều 153, các khoản 4 (tội buôn lậu); Điều 157, các khoản 3 và 4 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 165, khoản 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 179, khoản 3 (tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng); Điều 180, khoản 3 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả); Điều 181, khoản 3 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều 193, các khoản 3 và 4 (tội sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 194, các khoản 3 và 4 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý); Điều 195, các khoản 3 và 4 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 197, các khoản 3 và 4 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 200, các khoản 3 và 4 (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 201, các khoản và 4 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác); Điều 206, khoản 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 221, các khoản 2 và 3 (tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ); Điều 230, khoản 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 231, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 232, khoản 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ); Điều 236, khoản 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ); Điều 238,  khoản 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán  trái phép chất cháy, chất độc); Điều 278, các khoản 3 và 4 (tội tham ô tài sản); Điều 279, các 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 280, các khoản 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản); Điều 282, khoản 3 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 283, các khoản 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi); Điều 284, khoản 4 (tội giả mạo trong công tác).v.v…

 

Tuy nhiên, để xác định hành vi của một người có đủ dấu hiệu cấu thành tội phạm đã là một việc khó, nhưng để xác định người phạm tội thuộc trường hợp qù tại điều khoản nào của Bộ luật hình sự lại càng khó hơn, trong khi đó điều luật quy định người phạm tội phải biết rõ hành vi phạm tội đó là có tội và tội phạm đó thuộc trường hợp đặc biệt nghiêm trọng thì không đơn giản.

 

b. Gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Khác với trường hợp truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội. Nếu  hậu quả nghiêm trọng do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội là thiệt hại gây ra cho chính người bị oan và gia đình họ là chủ yếu, thì hậu quả do hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội lại là những thiệt hại gây ra cho xã hội là chủ yếu.

 

Để lọt người phạm tội, tức là trên thực tế tội phạm đã xảy ra nhưng do để lọt người phạm tội nên những thiệt hại do tội phạm đã gây ra không được xử lý và do không được xử lý nên các thiệt hại đó không được khắc phục kịp thời dẫn đến những thiệt hại hại khác cùng với những thiệt hại mà người phạm tội đã gây ra cho xã hội.

 

Việc xác định hậu quả do hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội gây ra cũng có ý kiến khác nhau:

 

Có ý kiến cho rằng, tiêu chí để xác định hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội là căn cứ vào tội phạm mà người có tội thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng;

 

Có ý kiến lại cho rằng, tiêu chí để xác định hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội không chỉ căn cứ vào tội phạm mà người có tội thực hiện là tội phạm ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, mà còn phải căn cứ vào những thiệt hại do không bị truy cứu trách nhiệm hình sự nên họ tiếp tục gây thiệt hại khác cho xã hội như: tiếp tục phạm tội khác hoặc tuy không phạm tội khác nhưng gây ra những thiệt hại cho xã hội mà chưa tới mức cấu thành tội phạm.

 

Các ý kiến trên đều có nhân tố hợp lý, nhưng theo chúng tôi đều chưa đầy đủ, bởi lẽ để lọt một người phạm tội ít nghiêm trọng nhưng cũng có thể gây ra hậu quả rất nghiêm trọng thậm chí gây ra hậu quả đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội. Mặt khác, điểm a khoản 2 điều luật nhà làm luật đã quy định tình tiết “không truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng” là tình tiết định khung hình phạt rồi, nếu lại xác định loại tội mà người có thẩm quyền không bị truy cứu trách nhiệm hình sự để xác định hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, hoặc đặc biệt nghiêm trọng nữa thì không phù hợp. Do đó chỉ có thể xác định hậu quả do hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội gây ra là những thiệt hại vật chất và phi vật chất cho xã hội và tuỳ thuộc vào mức độ thiệt hại cho xã hội mà xác định hậu quả đó là hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Trong khi chưa có giải thích hướng dẫn chính thức thì có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội gây ra.

 

Ngoài việc tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001, còn phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể do để lọt tội mà người được “thoát tội” gây ra những thiệt hại cho xã hội mà xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi không truy cứu truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội gây ra. Ví dụ: Do không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ, nên Vũ Quang D đã được đề bạt làm Thứ trưởng và ở cương vị này D tiếp tục thực hiện hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn để trục lợi và trù dập người đã tố cao D.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 294 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, phạm tội thuộc một trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù, nhưng không được dưới sáu tháng tù.

 

 Nếu người phạm tội thuộc trường hợp có cả hai tình tiết quy định tại khoản 2 của điều luật và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 294 Bộ luật hình sự

 

Cũng như khoản 3 Điều 293 Bộ luật hình sự, khoản 3 của điều luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt có tính chất, mức độ nguy hiểm khác nhau trong cùng một khung hình phạt, đó là gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôic cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp Hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội gây ra.

Ngoài ra, còn phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể do để lọt tội mà người được “thoát tội” gây ra những thiệt hại cho xã hội mà xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi không truy cứu truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội gây ra. Ví dụ: Do được đình chỉ vụ án về hành vi mua bán chất ma tuý, nên Trần Văn T đã cùng với đồng bọn tổ chức giết anh Đỗ Xuân Đ để cướp xe Taxi. Hành vi không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội này phải coi là trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 294 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng, không có tình tiết quy định tại điểm a khoản 2 của điều luật và người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới năm năm tù nhưng không được dưới hai năm tù.

 

 Nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có tình tiết quy định tại điểm a khoản 2 của điều luật và người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười hai năm tù.

 

4. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội cũng tương tự như đối với trường hợp phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không phạm tội quy định tại khoản 4 Điều 293 Bộ luật hình sự. 

 

 3. TỘI RA BẢN ÁN TRÁI PHÁP LUẬT 

 

Điều 295. Tội ra bản án trái pháp luật 

1. Thẩm phán, Hội thẩm nào ra bản án mà mình biết rõ là trái pháp luật, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Ra bản án trái pháp luật là ban hành bản án mà Thẩm phán hoặc Hội thẩm biết rõ là trái pháp luật.

 

Tội ra bản án trái pháp luật là tội phạm đã được quy định tại Điều 232 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

So với Điều 232 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 295 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Về cơ cấu, Điều 232 Bộ luật hình sự năm 1985 gồm 2 khoản, còn Điều 295 Bộ luật hình sự năm 1999 gồm 4 khoản trong đó khoản 4 là hình phạt bổ sung, bổ sung khoản 3 với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt: “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”; sửa đổi khái niệm “cố ý” bằng khái niệm “mà mình biết rõ là trái pháp luật”; tách hành vi “ra quyết định trái pháp luật” ra thành tội phạm riêng (tội ra quyết định trái pháp luật) quy định tại Điều 296 Bộ luật hình sự.

 

Về hình phạt, do yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này nên mức hình phạt của từng khung hình phạt so với Điều 232 Bộ luật hình sự năm 1985 nặng hơn nhiều. Nếu khoản 1 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 1985 có khung hình phạt từ sáu tháng đến ba năm, thì khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự năm 1999 là từ một năm đến năm năm; nếu khoản 2 Điều 232 Bộ luật hình sự năm 1985 có khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm, thì khoản 2 Điều 295 Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ ba năm đến mười năm, còn khoản 3 Điều 295 Bộ luật hình sự năm 1999 có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này cũng là chủ thể đặc biệt và đặc biệt hơn nữa là chỉ có Thẩm phán hoặc Hội thẩm (Hộithẩm nhân dân hoặc Hội thẩm quân dân) mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

 

Điều luật quy định chỉ có Thẩm phán nhưng không vì thế mà cho rằng đối với các chức vụ như: Chánh án, Phó chánh án, Chánh toà, Phó Chánh toà không phải là chủ thể của tội phạm này. Nếu Chánh án, Phó chánh án, Chánh toà, Phó Chánh toà được giao xét xử vụ án (tức là họ thực hiện nhiệm vụ của Thẩm phán) mà ra bản án trái pháp luật thì vẫn là chủ thể của tội phạm này. Ví dụ: Nguyễn Văn Th là Phó chánh án Toà án nhân dân huyện A.P tỉnh A.G được giao trực tiếp giải quyết hai vụ án dân sự, và mặc dù không mở phiên toà nhưng Nguyễn Văn Th vẫn ra hai bản án số 20/DSST ngày 03 tháng 02 năm 2005 và số 21/DSST ngày 03 tháng 02 năm 2005.

 

Trường hợp tuy Chánh án, Phó chánh án, Chánh toà, Phó Chánh toà không trực tiếp xét xử vụ án nhưng đã ra lệnh cho Thẩm phán, Hội thẩm ra bản án trái pháp luật thì tuỳ trường hợp mà hành vi của họ có thể là đồng phạm với Thẩm phán về tội ra bản trái pháp luật hoặc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ hoặc tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật.

 

Trường hợp , Thẩm phán, Hội thẩm ra bản án trái pháp luật theo chỉ đạo của Chánh án, Phó Chánh thì Thẩm phán và Hội thẩm vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật, còn Chánh án, Phó Chánh tuỳ từng trường hợp cụ thể mà phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ, tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật hoặc là đồng phạm về tội ra bản án trái pháp luật.

 

Trường hợp Thẩm phán, Hội thẩm đã hết nhiệm kỳ nhưng cố tình xét xử và ra bán án trái pháp luật thì không coi là hành vi ra bản án trái pháp luật vì họ không thoả mãn dấu hiệu về chủ thể của tội phạm, mà hành vi của họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền trong khi người thi hành công vụ.

 

Khác với tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội và tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, đối với tội ra bản án trái pháp luật thực tiễn đã xảy ra và một số vụ án Thẩm phán ra bản án trái pháp luật cũng đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật. Tuy nhiên, các trường hợp ra bản án trái pháp luật đã bị xử lý về hình sự chỉ là những bản án dân sự, hôn nhân và gia đình, chưa có trường hợp nào Thẩm phán ra bản án hình sự trái pháp luật mà bị xử lý hình sự cả, vì cũng như đối với hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội và không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, Thẩm phán hoặc Hội thẩm kết án người mà mình biết rõ là không có tội hoặc không kết án người mà mình biết rõ là có tội thực tế rất khó chứng minh, trừ trường hợp có sự móc nối giữa Điều tra viên, Kiểm sát viên và Thẩm phán bàn bạc truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội. Trường hợp nếu Thẩm phán hoặc Hội thẩm móc nối với Điều tra viên, Kiểm sát viên để kết án người không có tội hoặc không kết án người có tội thì Thẩm phán hoặc Hội thẩm vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật, còn Điều tra viên, Kiểm sát viên bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hoặc tội không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội ra bản án trái pháp luật không chỉ xâm phạm đến uy tín của Toà án, mà còn xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của người tham gia tố tụng; quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và của công dân.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này là bản án. Bản án là một văn bản tố tụng do Thẩm phán, Hội thẩm nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành bao gồm: bản án hình sự, bản án dân sự, bản án hôn nhân và gia đình, bản án kinh tế, bản án lao động và bản án hành chính.

 

Cũng coi là đối tượng tác động của tội phạm này, đối với các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm, bởi lẽ tuy tên văn bản là “quyết định” nhưng toàn bộ nội dung của nó không khác gì bản án.

 

Bản án, là một văn bản có bố cục gồm phần mở đầu, phần nội dụng vụ án hoặc vụ kiện (nhận thấy), phần xét thấy (nhận định, đánh giá, chứng minh) và phần quyết định. Thông thường một bản án trái pháp luật được thể hiện chủ yếu ở phần quyết định, vì phần này có ý nghĩa quyết định toàn bộ nội dung xét xử của Hội đồng xét xử và nó là nội dung mà cơ quan thi hành án và những người tham gia tố tụng căn cứ vào đó để thi hành. Tuy nhiên, cũng có trường hợp tính trái pháp luật lại ở phần mở đầu như: xác định không đúng, không đầy đủ người tham gia tố tụng, hoặc tính trái pháp luật thể hiện ở phàn xét thấy như đưa ra những căn cứ không đúng sự thật để chứng minh cho kết luận trái pháp luật. Vì vậy, bản án trái pháp luật là bản án không đúng pháp luật ở bất cứ phần nào, chứ không chỉ ở phần quyết định của bản án.

 

Trước khi Bộ luật hình sự năm 1999 được ban hành thì đối tượng tác động của tội phạm này còn bao gồm cả những quyết định có tính chất như bản án do Thẩm phán và Hội thẩm ban hành như: quyết định hoà giải thành, quyết định kê biên tài sản, quyết định xử lý vật chứng, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định áp dụng biện pháp chữa bệnh, quyết định tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù, quyết định hoãn chấp hành hình phạt tù.v.v… Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 đã quy định tội “ra quyết định trái pháp luật”, thì các quyết định trên thuộc đối tượng tác động của tội “ra quyết định trái pháp luật”.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Thẩm phán, Hội thẩm ra bản án trái pháp luật có thể bằng cách viết ra, tuyên án, ban hành bản án mà biết rõ là trái pháp luật. Tuy nhiên, nếu mới viết ra nhưng chưa tuyên án, chưa ban hành thì chưa phải là ra bản án.

 

Bản án được ví như là sản phẩm cuối cùng của quá trình điều tra, truy tố, xét xử nhưng đó là kết quả trực tiếp của hoạt động xét xử của Hội đồng xét xử. Do đó trách nhiệm trực tiếp đối với bản án là của các thành viên của Hội đồng xét xử. Vì là “sản phẩm” nên bản án phải là một văn bản có giá trị thi hành, nếu mới viết ra (soạn thảo) mà chưa tuyên đọc hoặc chưa ban hành thì chưa coi là đã “ra bản án”, mà đó chỉ là dự thảo bản án. Trường hợp bản án đã được thông qua trong phòng nghị án, có đủ các chữ ký của các thành viên Hội đồng xét xử nhưng vì lý do nào đó mà bản án đó chưa được tuyên đọc, chưa được ban hành, các cơ quan tiến hành tố tụng, người tham gia tố tụng và cơ quan, tổ chức có liên quan chưa nhận được và toàn các quyết định của bản án đó chưa được thi hành thì là trường hợp phạm tội chưa đạt.

 

Để ra được một bản án trái pháp luật, Thẩm phán hoặc Hội thẩm phải bằng những thủ đoạn khác nhau, vì bản án khác với quyết định. Quyết định có thể do một người ban hành nhưng bản án là văn bản của cả một tập thể (Hội đồng xét xử ba người hoặc năm người; nếu là quyết định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm thì có thể nhiều hơn). Vì vậy, để ra một bản án trái pháp luật mà không bị phát hiện thì người phạm tội phải thực hiện nhiều thủ đoạn khác nhau. Ví dụ: Nếu chỉ có Thẩm phán chủ toạ phiên toà có hành vi ra bản án trái pháp luật thì họ phải nói dối với các Hội thẩm, Thẩm phán khác hoặc dùng thủ đoạn gian dối khác để các Hội thẩm, Thẩm phán khác ký vào bản án và biên bản nghị án.

 

Trường hợp Thẩm phán đã tuyên đọc bản án trái pháp luật nhưng sau khi tuyên án, vì sợ bị trách nhiệm nên đã sửa chữa bản án (bản án được phát hành) theo hướng không trái pháp luật thì người Thẩm phán đó vẫn phạm tội ra bản án trái pháp luật, bởi lẽ bản án tuy chưa ban hành nhưng đã công bố (tuyên án) là đã hoàn thành hành vi ra bản án.

 

Liên quan đến hành vi ra bản án trái pháp luật là việc nghị án. Theo quy định của pháp luật thì nghị án là cơ sở cho việc ra bản án; bình thường thì nội dung nghị án được xác định là tài liệu gốc, nếu giữa bản án và biên bản nghị án có sự khác nhau thì căn cứ bào biên bản nghị án để xác định. Vì vậy, nếu Thẩm phán tuyên đọc bản án hoặc ban hành bản án trái pháp luật nhưng biên bản nghị án lại không trái pháp luật thì chỉ có Thẩm phán chịu trách nhiệm về việc ra bản án trái pháp luật đó, còn Hội thẩm không chịu trách nhiệm về bản án trái pháp luật đó. Tuy nhiên, hành vi nghị án và biên bản nghị án chưa phải là hành vi ra bản án. Vì vậy, nếu Hội đồng xét xử mới nghị án nhưng chưa ra bản án thì tuỳ trường hợp mà các thành viên của Hội đồng xét xử bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra quyết định trái pháp luật quy định tại Điều 296 Bộ luật hình sự.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Tuy nhiên, nếu hậu quả xảy ra thì tuỳ trường hợp, người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội ra bản án trái pháp luật ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật còn quy định một dấu hiệu khách quan rất quan trọng, đó là tính trái pháp luật của bản án mà Thẩm phán, Hội thẩm ban hành.

 

Một bản án bị coi là trái pháp luật là bản án có nội dung không đúng với quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự. Nói chung, bản án trái pháp luật là bản án có những sai lầm nghiêm trọng về việc áp dụng Bộ luật hình sự và vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng tới mức phải kháng nghị theo thủ tục phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm như:

 

- Kết án một người mà biết rõ là không có tội hoặc không kết án một người mà biết rõ là có tội.

 

- Áp dụng không đúng điều khoản của Bộ luật hình sự theo hướng nặng hơn hoặc nhẹ hơn đối với người phạm tội. Ví dụ: người phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 104 Bộ luật hình sự nhưng lại áp dụng khoản 4, khoản  2 hoặc khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự; áp dụng không đúng loại hình phạt hoặc áp dụng hình phạt quá nặng hoặc nhẹ đối với người phạm tội hoặc cho hưởng án treo không đúng với quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự; áp dụng các quy định của Bộ luật dân sự để giải quyết vấn đề dân sự trong vụ án hình sự; áp dụng không đúng các biện pháp tư pháp quy định trong Bộ luật hình sự;

 

- Gây thiệt hại cho đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình,  kinh tế, lao động, hành chính. Ví dụ: Truất quyền thừa kế của người mà theo pháp luật về thừa kế họ có quyền thừa kế; cho ly hôn khi không đủ các điều kiện mà pháp luật về hôn nhân gia đình quy định cho ly hôn; huỷ hợp đồng dân sự, hợp đồng kinh tế khi các Hội đồng đó không vi phạm điều cấm; buộc người sử dụng lao động phải nhận lại người lao động mà người sử dụng đã buộc thôi việc đúng pháp luật về lao động và hợp đồng lao động; bác yêu cầu của người đi kiện về một quyết định hành chính trái pháp luật của Uỷ ban nhân dân.v.v…

 

- Vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng khi xét xử, nghị án và ra bản án như: Thẩm phán và Hội thẩm thuộc trường hợp phải từ chối xét xử hoặc bị thay đổi nhưng vẫn tham gia xét xử; xét xử vắng mặt người tham gia tố tụng không đúng với quy định của luật tố tụng; tại phiên toà không thực hiện đúng trình tự các bước cần tiến hành để xét xử một vụ án.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội ra bản án trái pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ việc ra bản án của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

 

Điều luật quy định “biết rõ là trái pháp luật” tức là, người phạm tội phải biết rõ bản án mà mình ban hành là trái pháp luật; nếu vì lý do khách quan hoặc do trình độ nghiệp vụ non kém mà Thẩm phán, Hội thẩm không biết rõ là trái pháp luật thì không phạm tội ra bản án trái pháp luật.

 

Thực tiễn xét xử cho thấy có nhiều bản án trái pháp luật ở mức độ khác nhau, trong đó có không ít bản án bị Toà án cấp phúc thẩm hoặc cấp giám đốc thẩm huỷ để điều tra lại hoặc để xét xử lại, thậm chí có bản án kết án oan người vô tội nhưng hầu hết những Thẩm phán ra các bản án này thường chỉ nhận là do nhận thức, do trình độ nghiệp vụ non kém, chứ không có ai nhận là “biết rõ là trái pháp luật”. Tuy nhiên về nguyên tắc, có trường hợp dù Thẩm phán có không thừa nhận thì vẫn có thể buộc họ là “biết rõ là trái pháp luật” như: không xét xử mà ra bản án; người tham gia tố tụng không có mặt phiên toà thì bản án lại ghi là có mặt; Hội thẩm nhân dân tham gia xét xử là ông A thì bản án lại ghi là ông B; Biên bản nghị án thống nhất phạt tù giam bị cáo thì bản án lại ghi là phạt tù nhưng cho hưởng án treo. v.v…

 

Tuy điều luật không quy định động cơ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng không vì thế mà không cần xác định động cơ của người phạm tội. Thực tiễn xét xử cho thấy hành vi ra bản án trái pháp luật tới mức bị truy cứu trách nhiệm hình sự đều xuất phát từ động cơ xấu như vì vụ lợi, vì thù tức hoặc vì động cơ cá nhân khác gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích Nhà nước, lợi ích của cơ quan, tổ chức hoặc lợi ích hợp pháp của công dân. Vì vậy, việc xác định động cơ phạm tội có một ý nghĩa rất quan trọng để xác định ý thức củ quan của người phạm tội cớ biết rõ bản án mà mình ra là trái pháp luật hay không.

 

Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp người phạm tội vì động cơ thành tích, muốn giải quyết nhanh để giảm tỷ lệ án tồn động như trường hợp đối với Nguyễn Văn Th, Phó chánh án Toà án nhân dân huyện A.P tỉnh A.G đã nêu ở trên. Căn cứ vào động cơ phạm tội mà có thể xác định người phạm tội có biết rõ bản án mà mình ban hành có trái pháp luật hay không.

 

Nếu Thẩm phán hoặc Hội thẩm nhận hối lộ mà ra bản án trái pháp luật thì ngoài tội ra bản án trái pháp luật còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.

 

Thực tiễn xét xử còn có trường hợp do thiếu trách nhiệm, không kiểm tra khi ban hành bản án nên có sự nhầm lẫn tới mức phải kháng nghị giám đốc thẩm, vì bản án đó bị coi là trái pháp luật nhưng Thẩm phán ra bản án đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật, mà chỉ bị xử lý về hành vi thiếu trách nhiệm. Ví dụ: Trong bản án hình sự phúc thẩm số 1736/2005/HSPT ngày 19-10-2005, ghi hội đồng xét xử gồm: Chủ toạ phiên toà là ông Tô Chánh Tr; các Thẩm phán là ông Hoàng Văn Tr, bà Lương Ngọc Tr nhưng trên thực tế thì chủ toạ phiên toà là ôngHoàng Văn Tr, còn các Thẩm phán là ông Trương Vĩnh Th, bà Lương Ngọc Tr

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ một đến năm năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 295 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội không vì động cơ xấu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt dưới một năm tù, nhưng không được dưới ba tháng tù; nếu đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì có thể được hưởng án treo. Nếu người phạm tội vì động cơ xấu và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến năm năm tù.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 295 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật nhà làm luật chỉ quy định một tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Trường hợp ra bản án trái pháp luật mà bản án đó là bản án hình sự kết án người không có tội hoặc không kết án người có tội, thì có thể tham khảo tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi ra bản án trái pháp luật gây ra.

 

Nếu ra bản án trái pháp luật mà kết án người không có tội mà thuộc một trong các trường hợp sau thì coi là gây hậu quả nghiêm trọng:5

 

- Người bị kết án oan và đã bị phạt tù đến năm năm và đang bị chấp hành hình phạt;

 

- Người bị kết án oan bị giam, giữ dẫn đến suy kiệt sức khoẻ có tỷ lệ thương tật từ 31% đến 60%;

 

- Do bị kết án oan nên mất việc làm, mất thu nhập chính ảnh hưởng đến cuộc sống gia thân nhân của họ;

 

- Người bị kết án oan bị thiệt hại từ 50 triệu đến 100 triệu đồng;

 

 Đối với các bản án khác (dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh tế, hành chính, lao động) trái pháp luật thì có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi ra bản án trái pháp luật gây ra. Tuy nhiên, hậu quả nghiêm trọng do hành vi ra bản án trái pháp luật gây ra không chỉ là những thiệt hại về vật chất mà chủ yếu là những thiệt hại phi vật chất, ảnh hưởng nghiêm trọng đến uy tín của ngành Toà án làm cho mọi người không còn tin vào công lý. Thực tiễn cho thấy, nếu Thẩm phán cố ý ra bản án trái pháp luật là đã gây ra những hậu quả nghiêm trọng mà không phải một sớm một chiều có thể khắc phục được. Ví dụ: Thẩm phán huỷ hợp đồng mua bán nhà, gây thiệt hại cho dương sự hàng chục tỷ đồng và bản án dân sự đó đã được thi hành sau 5 năm mới bị phát hiện là bản án là bản án trái pháp luật, thì việc khắc phục hậu quả do hành vi ra bản án trái pháp luật của Thẩm phán là rất khó khăn, có trường hợp không thể khắc phục được hậu quả.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 295 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ ba năm đến mười năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, cần phải cân nhắc đến hành vi ra bản án trái pháp luật là bản án gì (hình sự, dân sự, kinh tế, lao động, hành chính). Nếu không phải là bản án hình sự kết án người không có tội hoặc không két án người có tội và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới ba năm tù, nhưng không được dưới một năm. Nếu người phạm tội ra bản án trái pháp luật là bản án hình sự kết án người không có tội hoặc không két án người có tội và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười năm tù. Tuy nhiên, nếu là bản án hình sự trái pháp luật nhưng không thuộc trường hợp kết án người không có tội hoặc không kết án người có tội, mà chỉ là vi phạm tố tụng hoặc gây thiệt hại về vật chất cho người tham gia tố tụng thì cũng không coi là trường hợp phải áp dụng hình phạt nghiêm khắc.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 295 Bộ luật hình sự

 

Cũng như khoản 3 Điều 293 Bộ luật hình sự, khoản 3 của điều luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như đối với trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật, đối với bản án hình sự trái pháp luật có thể tham khảo tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi ra bản án trái pháp luật gây ra

 

Nếu thuộc một trong các trường hợp sau thì coi là gây hậu quả rát nghiêm trọng:

 

- Người bị kết án oan và bị phạt tù từ năm năm đến dưới mười lăm năm và đã chấp hành hình phạt tù trên năm năm;

 

- Người bị kết án oan bị giam, giữ dẫn đến suy kiệt sức khoẻ có tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;

 

- Người bị kết án oan và bị phạt tù đến năm năm và đã chấp hành xong hình phạt tù;

 

- Người bị kết án oan bị thiệt từ 100 triệu đến 200 triệu đồng;

 

Nếu thuộc một trong các trường hợp sau thì coi là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng:

 

- Người bị kết án oan bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm, tù chung thân và đã chấp hành hình phạt tù trên mười năm;

 

- Người bị kết án oan do uất ức đã tự sát hoặc bị giam, giữ dẫn đến tử vong hoặc đã bị thi hành án tử hình oan;

 

- Người bị kết án oan bị thiệt hại trên 200 triệu đồng;

 

Đối với các bản án khác trái pháp luật có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôic cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi ra bản án trái pháp luật gây ra.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 295 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm, cũng là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới năm năm tù nhưng không được dưới ba năm.

 

 Nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười lăm năm tù.

 

4. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Việc áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội cũng tương tự như đối với trường hợp phạm tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không phạm tội quy định tại khoản 4 các Điều 293, 294 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, đối với Thẩm phán và Hội thẩm ra bản án trái pháp luật ngoài việc cấm làm Thẩm phán và Hội thẩm thì còn có thể bị cấm làm việc trong các cơ quan tư pháp. Nói chung đối với những người đã phạm tội này sau khi chấp hành xong hình phạt tù thì cũng chẳng bao giờ được tuyển dụng vào các cơ quan bảo vệ pháp luật hoặc được bầu làm Hội thẩm nhân dân hoặc Hội thẩm quân dân.

 

 4. TỘI RA QUYẾT ĐỊNH TRÁI PHÁP LUẬT 

 

Điều 296.  Tội ra quyết định trái pháp luật

1. Người nào có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ  sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ  nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Ra quyết định trái pháp luật là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định mà mình biết rõ là trái pháp luật.

 

Tội ra quyết định trái pháp luật là tội phạm được tách từ tội “ra bản án hoặc quyết định trái pháp luật” quy định tại Điều 232 Bộ luật hình sự năm 1985 và được bổ sung thêm phạm vi áp dụng đối với người phạm tội (chủ thể) cho phù hợp với thực tiễn. Nếu trừ hành vi ra quyết định trái pháp luật của Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân ra thì tội phạm này được coi là mới. Bởi lẽ, ngoài Thẩm phán và Hội thẩm ra, thì còn một số người tiến hành tố tụng như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó chánh án Toà án; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Chấp hành viên trong khi thực hiện nhiệm vụ của mình đã cố ý ra các quyết định trái pháp luật gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân nhưng vì không thuộc các trường hợp như: truy cứu người không có tội; không truy cứu người có tội hoặc ra bản án trái pháp luật nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi ra quyết định trái pháp luật được. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực pháp luật đến nay việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội này cũng gặp nhiều khó khăn, chỉ có một vài trường hợp đối với cán bộ thi hành án ra quyết định trái pháp luật bị truy cứu trách nhiệm hình sự, còn đối với người tiến hành tố tụng thì chưa truy cứu được trường hợp nào.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó chánh án Toà án; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Chấp hành viên mới có thể thực hiện được tội phạm này.

 

Nếu người có chức vụ, quyền hạn nhưng không phải là người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố xét xử, thi hành án mà ra lệnh cho người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố xét xử, thi hành án ra quyết định trái pháp luật thì tuỳ trường hợp mà họ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật hoặc về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Nhưng người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố xét xử, thi hành án vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra quyết định trái pháp luật.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội ra quyết định trái pháp luật không chỉ xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, mà còn ảnh hưởng đến quá trình giải quyết vụ án, xâm phạm đến hoạt động bình thường của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và Cơ quan thi hành án, làm mất uy tín của các cơ quan tiến hành tố tụng và Cơ quan thi hành án.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này là những quyết định trái pháp luật của những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án như: quyết định thu giữ đồ vật, tài liệu; quyết định xử lý vật chứng; quyết định việc bắt khẩn cấp; quyết định áp dụng, thay đổi hoặc huỷ bỏ biện pháp ngăn chặn; quyết định kê biên tài sản; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời; quyết định thi hành án.v.v… Nói chung, trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thi hành án những người có thẩm quyền ra nhiều quyết định có liên quan đến quá trình giải quyết một vụ án. Tuy nhiên, nếu trong các quyết định trái pháp luật nếu đó chỉ là thủ đoạn để người phạm tội thực hiện tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội hoặc ra bản án trái pháp luật thì không còn là đối tượng tác động của tội phạm này nữa.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ra quyết định trái pháp luật có thể bằng miệng hoặc bằng văn bản (nói chung là bằng văn bản) mà biết rõ là trái pháp luật.

 

Người thực hiện hành vi ra quyết định trái pháp luật cũng không giống nhau, mà tuỳ trường hợp người có thẩm quyền là ai mà để xác định hành vi ra quyết định có trái pháp luật hay không. Nếu người ra quyết định là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng, Cơ quan điều tra, Điều tra viên thì chỉ có thể ra các quyết định trái pháp luật trong quá trình điều tra vụ án hình sự, nhưng nếu là Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm thì không chỉ ra các quyết định trái pháp luật liên quan đến vụ án hình sự mà còn có những quyết định trái pháp luật liên quan đến các vụ dân sự, kinh tế, hành chính, lao động.

 

Trong trường hợp ra quyết định bằng miệng thì phải có căn cứ xác định người có thẩm quyền đã quyết định và từ quyết định này đã trực tiếp gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì mới bị coi là hành vi phạm tội ra quyết định trái pháp luật. Ví dụ: Hoàng Văn D là Đội trưởng Đội thi hành án dân sự huyện H, được phân công chỉ huy lực lượng cưỡng chế buộc gia đình bà Trần Thị M phải ra khỏi nhà để giao nhà cho anh Vũ Quốc T. Khi lực lượng cưỡng chế đã tập kết tại gia gia đình bà M thì nhận được quyết định tạm hoãn thi hành án để chờ kết quả giám đốc thẩm. Mặc dù đã nhận được quyết định tạm hoãn thi hành án nhưng D vẫn ra lệnh cho lực lượng cưỡng chế thi hành việc buộc gia đình bà M ra khỏi nhà.

 

Trong trường hợp quyết định trái pháp luật là quyết định bằng miệng của cấp trên đối với cấp dưới trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án hình sự hoặc trong quá trình giải quyết vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động có liên quan đến việc truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội hoặc ra bản án trái pháp luật thì cần phân biệt:

 

- Nếu người ra quyết định (mệnh lệnh) biết rõ là do mệnh lệnh của mình mà cấp dưới đã truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội hoặc ra bản án trái pháp luật thì thuộc trường hợp quy định tại Điều 292, Điều 293 hoặc Điều 294 Bộ luật hình sự.

 

- Nếu người ra quyết định (mệnh lệnh) tuy biết rõ là trái pháp luật nhưng không biết rõ là do mệnh lệnh của mình mà cấp dưới đã truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội hoặc ra bản án trái pháp luật thì thuộc trường hợp quy định tại Điều 295 Bộ luật hình sự.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi ra quyết định trái pháp luật chưa gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân thì chưa cấu thành tội phạm này, mà tuỳ trường hợp người có hành vi có thể chỉ bị xử lý hành chính.

 

Vấn đề đặt ra là, khoản 2 của điều luật cũng quy định tình tiết “gây hậu quả nghiêm trọng” là yếu tố định khung hình phạt. Vậy hậu quả nghiêm trọng với thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân có gì khác nhau ? Đây không phải là trường hợp hy hữu nhà làm luật quy định trong Bộ luật hình sự mà trong một số tội phạm khác, nhà làm luật cũng quy định “gây thiệt hại” và “gây hậu quả” là hai tình tiết khác nhau trong cùng một điều luật.

 

Khoa học luật hình sự coi hậu quả do hành vi phạm tội gây ra là những thiệt hại mà người phạm tội gây ra cho xã hội. Như vậy, nếu hiểu hậu quả là những thiệt hại thì giữa hậu quả và thiệt hại không có gì khác nhau. Tuy nhiên, nếu xem xét mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả do hành vi phạm tội gây ra thì thiệt hại là do hành vi (nguyên nhân) trực tiếp gây ra, còn hậu quả có thể còn do hành vi là nguyên nhân gián tiếp gây ra. Ví dụ: Quyết định kê biên tài sản trái phép gây thiệt hại trực tiếp đến việc sử dụng tài sản bị kê biên của chủ sở hữu tài sản, còn hậu quả do quyết định kê biên tài sản trái phép không chỉ bao gồm những thiệt hại về quyền của chủ sở hữu mà còn bao gồm những thiệt hại do không thực hiện được quyền sở hữu gây ra như: mất thu nhập, phải huỷ bỏ các hợp đồng do tài sản đã bị kê biên, ảnh hưởng đến đới sống của gia đình chủ sở hữu có tài sản bị kê biên trái phép.v.v…

 

Điều luật chỉ quy định gây thiệt hại chứ không quy định gây thiệt hại nghiêm trọng, còn khoản 2 của điều luật quy định gây hậu quả nghiêm trọng. Do đó mức độ thiệt hại quy định tại khoản 1 (cấu thành cơ bản) phải thấp hơn trường hợp gây thiệt hại mà thiệt hại đó là hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 2 của điều luật. Do đó, việc nhà làm luật quy định gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân tại khoản 1 của điều luật (cấu thành cơ bản) với tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra không có gì mâu thuẫn.

 

 Mặc dù khoản 1 (cấu thành cơ bản) quy định chỉ cần gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân là người có hành vi ra quyết định trái pháp luật đã cấu thành tội phạm này rồi, nhưng khi xem xét từng trường hợp cụ thể cần phải căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi ra quyết định trái pháp luật và thiệt hại thực tế mà người đã ra quyết định trái pháp luật đã gây ra cho Nhà nước, cho tổ chức hoặc cho công dân để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi ra quyết định trái pháp luật. Ví dụ: quyết định tạm giữ một chiếc xe mô tô trái pháp luật gây thiệt hại thấp hơn một quyết định cưỡng chế thi hành án trái pháp luật buộc cả gia đình phải rời khỏi chỗ mình đang ở. Tuy nhiên, cũng có ý kiến cho rằng, thiệt hại mà hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra phải đáng kể thì mới cấu thành tội phạm và đề nghị các cơ quan có thẩm quyền hướng dẫn bằng cách lượng hoá các thiệt hại do hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi ra quyết định trái pháp luật. Theo ý kiến này thì hành vi ra quyết định trái pháp luật gây thiệt hại từ 50 triệu đến 100 triệu đồng; gây tổn hại đến sức khoẻ của con người có tỷ lệ thương tật từ 11% đến 30%; gây tổn hại nghiêm trọng đên uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng, tổ chức hoặc danh dự, nhân phẩm của công dân, thì người có hành vi ra quyết định trái pháp luật mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 296 Bộ luật hình sự. Việc lượng hoá những thiệt hại để làm căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự là một việc cần thiết, nhưng đối với loại tội phạm này chỉ nên lượng hoá  những thiệt hại vật chất có thể lượng hoá được, còn những thiệt hại phi vật chất thì phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội ra quyết định trái pháp luật ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật còn quy định một dấu hiệu khách quan rất quan trọng, đó là tính trái pháp luật của quyết định mà người có thẩm quyền đã ra.

 

Một quyết định bị coi là trái pháp luật là quyết định có nội dung không đúng với quy định của pháp luật. Khi xác định tính trái pháp luật của quyết định mà người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án ban hành cần phải xem xét cả nội dung và hình thức của quyết định. Nếu một người không có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mà lại ra quyết định có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án thì quyết định đó tuy trái pháp luật nhưng người ra quyết định đó không phạm tội ra quyết định trái pháp luật mà tuỳ trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lạm quyền hoặc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

 

Như vậy tính trái pháp luật của quyết định là đối tượng của tội phạm này chỉ là nhưng quyết định trái pháp luật có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

 

Tính trái pháp luật được biểu hiện không chỉ trái pháp luật về nội dung của quyết định mà còn trái pháp luật cả về hình thức của quyết định đó. Tuy nhiên, người phạm tội ra quyết định trái pháp luật chủ yếu là trái pháp luật về nội dung, còn về hình thức rất ít trường hợp người phạm tội để sai, vì nếu vi phạm về hình thức quyết định thì dễ bị phát hiện, mà người phạm tội đã chủ định ra quyết định trái pháp luật thì bao giờ cũng bằng cách này hay cách khác che giấu hành vi phạm tội của mình. Ví dụ: anh Bùi Quốc D và chị Đào Thị Xuân L kết hôn với nhau năm 1990 và có một con chung: năm 1996 anh D đi lao động ở Nga; trong thời gian ở Nga, anh D yêu chị Nguyễn Thị M cùng làm việc với anh D ở Nga; năm 2000 anh D về nước xin ly hôn với chị Đào Thị Xuân L, nhưng chị L không đồng ý ly hôn. Do quen biết với Thẩm phán Đặng Văn A, nên Bùi Quốc D nhờ A làm cho mình một quyết định “thuận tình ly hôn” với vợ là chị Đào Thị Xuân L để trở lại Nga kết hôn với chị M. Vì nể D là bạn học phổ thông với mình, nên A đã làm cho D một quyết định thuận tình ly hôn. Khi sự việc bị bại lộ thì mới biết quyết định thuận tình ly hôn mà Thẩm phán A cấp cho anh D chỉ có chữ ký của anh D còn chữ ký của chị L là do D tự ký. Quyết định thuận tình ly hôn mà Thẩm phán A cấp cho anh D cả nội dung và hình thức đều trái pháp luật. Về nội dung không có sự tự thuận tình của chị L, về hình thức chữ ký của chị L trong quyết định này là chữ ký giả.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội ra quyết định trái pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ việc ra quyết định của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

 

Điều luật quy định “biết rõ là trái pháp luật” tức là, người phạm tội phải biết rõ quyết định của mình là trái pháp luật; nếu vì lý do nào đó mà người có thẩm quyền không biết rõ là trái pháp luật thì không phạm tội ra quyết định trái pháp luật. Ví dụ: Nguyễn Văn T là Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra Công an tỉnh tỉnh B đã ra quyết định kê biên ngôi nhà của bà Hoàng Thị Kim D vì chồng bà D là Trần Văn H bị bắt về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Sau khi bị kê biên nhà, bà D đã làm đơn đề nghị Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh B xem xét lại quyết định kê biên, vì theo bà D thì ngôi nhà này bà đã thế chấp cho Ngân hàng đầu tư phát triển tỉnh vay 800 triệu đồng để làm vốn kinh doanh. Sau khi nhận được đơn của bà D, Cơ quan điều tra và Viện kiểm sát nhân dân tỉnh đã kiểm tra lại thì đúng như đơn khiếu nại của bà D nên Thủ trưởng Cơ quan điều tra Công án tỉnh B đã ra quyết định huỷ bỏ quyết định kê biên ngôi nhà của bà D. Mặc dù hành vi ra quyết định kê biên nhà của Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra Nguyễn Văn T là trái pháp luật nhưng do T không biết ngôi nhà đó đã chế chấp Ngân hàng để vay tiền, nên không thể coi trường hợp này là trường hợp biết rõ là trái pháp luật được. 

 

Cũng như đối với tội ra bản án trái pháp luật, điều luật không quy định động cơ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội là rất cần thiết. Căn cứ vào động cơ phạm tội mà có thể xác định người phạm tội có biết rõ quyết định của mình có trái pháp luật hay không.

 

 Nếu người có thẩm quyền ra quyết định và biết rõ là trái pháp luật nhưng vì chấp hành chỉ thị của cấp trên thì tuỳ trường hợp mà người ra quyết định trái pháp luật vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra quyết định trái pháp luật, còn người ra chỉ thị (ra lệnh) có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thì hành công vụ hoặc đồng phạm với người ra quyết định trái pháp luật.

 

Nếu người có thẩm quyền nhận hối lộ mà ra quyết định trái pháp luật thì ngoài tội ra quyết định trái pháp luật còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 296 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 296 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 296 Bộ luật hình sự, nếu thiệt hại gây ra ở mức thấp, ra quyết định trái pháp luật không vì động cơ xấu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc được áp dụng hình phạt dưới sáu tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu thiệt hại gây ra ở mức cao (gần với mức bị coi là gây hậu quả nghiêm trọng), ra quyết định trái pháp luật vì động cơ xấu hoặc có kèm theo hành vi nhạn hối lộ và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật chỉ quy định một tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả nghiêm trọng. Như trên đã phân tích, hậu quả nghiêm trọng tuy cũng là thiệt hại do hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra nhưng mức độ lớn hơn so với thiệt hại (dấu hiệu bắt buộc cấu thành).

 

Gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra là những thiệt hại nghiêm trọng về vật chất và phi vật chất cho lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp quy định tại điểm b khoản 1 Điều 293 Bộ luật hình sự nên có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi ra quyết định  trái pháp luật gây ra.

 

Việc xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra cũng tương tự như việc xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội hoặc ra bản án trái pháp luật, bởi vì các quyết định trái pháp luật ở đây là các quyết định trong hoạt động tư pháp, nên nó ảnh hưởng rất xấu đến lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. Do đó không chỉ căn cứ vào những thiệt hại thực tế đã gây ra cho lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, mà phải xem xét đến những thiệt hại gián tiếp, những thiệt hại phi vật chất để đánh giá hậu quả do hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra đã là hậu quả nghiêm trọng chưa. Việc đánh giá này hoàn toàn phụ thuộc vào kỹ năng của người có thẩm quyền trong các cơ quan tiến hành tố tụng.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 296 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu thiệt hại gây ra ở mức trên mức nghiêm trọng nhưng chưa gần mức rất nghiêm trọng, ra quyết định trái pháp luật không vì động cơ xấu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù, hoặc được chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Nếu thiệt hại gây ra ở mức gần vơi mức rất nghiêm trọng, ra quyết định trái pháp luật vì động cơ xấu, có kèm theo hành vi nhận hối lộ và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật hình sự

 

Cũng như khoản 3 Điều 295 Bộ luật hình sự, khoản 3 của điều luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt có tính chất, mức độ nghiêm trọng khác nhau, đó là gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra là những thiệt hại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng về vật chất và phi vật chất cho lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân.

 

Trường hợp phạm tội này cũng có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôic cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra. Tuy nhiên, cũng như trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra, không chỉ căn cứ vào những thiệt hại thực tế đã gây ra cho lợi ích Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân, mà phải xem xét đến những thiệt hại gián tiếp, những thiệt hại phi vật chất để đánh giá hậu quả do hành vi ra quyết định trái pháp luật gây ra đã là hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hay chưa. 

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 296 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ năm năm đến mười năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng và mức thiệt hại chỉ trên mức nghiêm trọng và chưa gần mức đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội với động cơ không xấu và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới năm năm tù nhưng không được dưới hai năm.

 

 Nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội với động cơ xấu hoặc có kèm theo hành vi nhận hối lộ và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười năm tù.

 

4. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Cũng như đối với trường hợp quy định tại các khoản 4 Điều 293, 294 và 295, khi áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội cần căn cứ vào hành vi cụ thể và người phạm tội cụ thể để cấm đảm nhiệm chức vụ nào cho phù hợp.

 

5. TỘI ÉP BUỘC NHÂN VIÊN TƯ PHÁP LÀM  TRÁI PHÁP LUẬT 

 

Điều 297.  Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật 

 

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn nguy hiểm, xảo quyệt  khác;

b) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn bắt buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

 

Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật là tội phạm đã được quy định tại Điều 233 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

Nhà làm luật quy định hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật là hành vi phạm tội cũng xuất phát từ việc chống lại sự can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của các cơ quan tư pháp và nhân viên tư pháp, nhằm bảo đảm cho hoạt động tư pháp được khách quan, vô tư, trung thực.

 

Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng chống tội phạm này cho thấy hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật không phải không xảy ra, thậm chí có nơi có lúc rất nghiêm trọng nhưng việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi này không dễ dàng, vì khi nhân viên tư pháp có hành vi làm trái pháp luật bị phát hiện, họ thường nêu lý do bị người này, người khác có chức vụ, quyền hạn ép buộc, nếu không làm thì sẽ ảnh hưởng đến gia đình, bản thân nhưng lại không đưa ra được chứng cứ xác thực. Nhà làm luật quy định hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật là hành vi phạm tội cũng xuất phát từ việc chống lại sự can thiệp trái pháp luật vào hoạt động của các cơ quan tư pháp và nhân viên tư pháp, nhằm bảo đảm cho hoạt động tư pháp được khách quan, vô tư, trung thực.

 

So với Điều 233 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 297 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Điều 233 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ có một cấu thành, còn Điều 297 Bộ luật hình sự năm 1999 cấu tạo thành 3 khoản trong đó khoản 3 là hình phạt bổ sung, bổ sung khoản 2 với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt là “dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn nguy hiểm, xảo quyệt  khác và “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”; bổ sung tình tiết là yếu tố định tội “làm trái pháp luật trong hoạt động” và sửa khái niệm “một cách nghiêm trọng” bằng khái niệm “gây hậu quả nghiêm trọng”.

 

Về hình phạt, do yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này  ngoài việc quy định thêm khung hình phạt tăng nặng thì mức hình phạt cao nhất của tội phạm này là bảy năm thay vì chỉ có ba năm như Điều 233 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có chức vụ, quyền hạn mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Người có chức vụ nói trên đây là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

 

Người có chức vụ, quyền hạn có thể là chủ thể của tội phạm này, nhưng không phải tất cả những người có chức vụ, quyền hạn đều có thể là chủ thể của tội phạm này. Những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tư pháp như Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan thi hành án không phải là chủ thể cua tội phạm này, vì những người này họ cũng là nhân viên tư pháp và nếu ép buộc nhân viên tư pháp dưới quyền mình làm trái pháp luật thì hành vi ép buộc đó là đồng phạm với hành vi làm trái pháp luật của nhân viên tư pháp dưới quyền.

 

Đối với những người có chức vụ, quyền hạn công tác trong các cơ tư pháp nhưng không phải là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát, Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan thi hành án mà có hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật thì cũng là chủ thể của tội phạm này như: Giám đốc, Phó giám đốc, Trưởng phòng, Phó trưởng phòng các phòng chức năng của Công an tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương; Phó trưởng công an quận, huyện, thị xã, thành phố trực thuộc tỉnh thành phố trực thuộc Trung ương… ( nếu những người này không là Thủ trưởng, phó thủ trưởng Cơ quan điều tra ).

 

 Tuy phức tạp nhưng ranh giới để xác định tư cách chủ thể của tội phạm này đối với người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tư pháp là: Nếu họ đồng thời là nhân viên tư pháp thì không phải là chủ thể của tội phạm này; nếu họ công tác trong các cơ quan tư pháp nhưng họ không phải là nhân viên tư pháp thì có thể là chủ thể của tội phạm này. Các cơ quan tư pháp bao gồm cả Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và Cơ quan thi hành án trong quân đội.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật xâm phạm đến hoạt đồng bình thường của các cơ quan tư pháp, đồng thời xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân. bởi lẽ, khi nhân viên tư pháp đã bị ép buộc làm trái pháp luật, thì không chỉ hoạt động bình thường của cơ quan tư pháp bị xâm phạm mà lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, công dân cũng bị xâm phạm.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là nhân viên tư pháp. Nhân viên tư pháp bao gồm: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; Chánh án, Phó chánh án Toà án các cấp; Thẩm phán, Hội thẩm và Thư ký Toà án; Chấp hành viên. Cũng được coi là nhân viên tư pháp, tuy họ không phải là người tiến hành tố tụng; là Chấp hành viên nhưng họ có nhiệm vụ tham gia vào trong quá trình giải quyết vụ án như: Thẩm tra viên, chuyên viên pháp lý công tác ở Toà án các cấp, tuy họ không trực tiếp tiến hành tố tụng như những người tiến hành tố tụng nhưng vai trò của họ cũng rất quan trọng, họ là những người được phân công nghiên cứu hồ sơ vụ án đề xuất hướng giải quyết vụ án, nếu họ bị ép buộc làm trái pháp luật thì cũng sẽ dẫn đến hậu quả nghiêm trọng. Ví dụ: Vì không muốn đề xuất với người có thẩm quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án đã có hiệu lực pháp luật, nên Vũ Khắc A đã ép buộc Bùi Thị C báo cáo không đúng các tình tiết của vụ án theo hướng bản án có hiệu lực pháp luật không vi phạm nghiêm trọng với người có thẩm quyền kháng nghị dẫn đến hậu quả vụ án không được kháng nghị gây thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích của người tham gia tố tụng. 

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Người ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật trước hết phải là người lợi dụng chức vụ, quyền hạn được giao để ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật.

 

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn là sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để làm một việc trái pháp luật.

 

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật là sử dụng chức vụ, quyền hạn của mình để buộc nhân viên tư pháp phải làm trái pháp luật theo yêu cầu của mình. Nếu họ không có chức vụ, quyền hạn thì khó có thể thực hiện việc ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật.

 

Ép buộc là dùng quyền lực của mình buộc người khác phải làm theo ý mình mà họ không muốn. Hành vi ép buộc có thể bằng lời nói: dụ dỗ, hăm doạ, hứa hẹn hoặc bằng hành động như: dùng vũ lực; đe doạ dùng vũ lực hoặc bằng những thủ đoạn nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của nhân viên tư pháp.

 

Về phía người bị ép buộc (nhân viên tư pháp) phải là người nếu không phục tùng người có ép buộc thì sẽ bị trù dập, bị mất quyền và lợi ích (kể cả lợi ích hợp pháp và không hợp pháp) như: bị điều chuyển công tác không theo nguyện vọng, bị xử lý kỷ luật do đã thực hiện hành vi vi phạm, bị xử lý hình thức kỷ luật nặng hơn so với lỗi vi phạm, không được đề bạt, bị phân công những việc khó khăn hoặc các lợi ích vật chất, tinh thần khác…

 

Nếu người có chức vụ, quyền hạn không ép buộc mà chỉ nhờ vả, nếu nhân viên tư pháp không giúp thì cũng không sao; việc làm trái pháp luật của nhân viên tư pháp hoàn toàn tự nguyện thì người có chức vụ, quyền hạn không bị coi là ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật.

 

Người bị ép buộc (nhân viên tư pháp) phải thực hiện một công việc mà việc đó là trái pháp luật; nếu bị ép buộc nhưng họ không thực hiện một hành vi trái pháp luật thì người có hành vi ép buộc cũng chưa bị coi là phạm tội.

 

b. Hậu quả

 

Tương tự như đối với tội ra quyết định trái pháp luật quy định tại Điều 296 Bộ luật hình sự, hậu quả của tội phạm này cũng là dấu hiệu bắt buộc. Nếu hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội phạm này, mà tuỳ trường hợp người có hành vi có thể chỉ bị xử lý hành chính.

 

Hậu quả nghiêm trọng do hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật gây ra là những thiệt hại vật chất và phi vật chất cho xã hội trong đó có những thiệt hại đối với người tham gia tố tụng và những người khác.

 

Hậu quả nghiêm trọng do hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật gây ra là những thiệt hại chủ yếu do chính hành vi làm trái pháp luật của nhân viên tư pháp gây ra, mức độ nghiêm trọng của hậu quả phụ thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng do hành vi trái pháp luật của nhân viên tư pháp gây ra cho xã hội. Nếu ép buộc nhân viên tư pháp truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hậu quả sẽ nghiêm trọng hơn ép buộc nhân viên tư pháp ra quyết định hoãn thi hành án phạt tù trái pháp luật. Vì vậy, khi xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật phải căn cứ vào hành vi làm trái pháp luật của nhân viên tư pháp là hành vi cụ thể nào, đồng thời tham khảo hậu quả do hành vi phạm tội của nhân viên tư pháp được quy định trong chương này. Ví dụ: Do bị ép buộc nên Thẩm phán đã ra bản án trái pháp luật thì phải căn cứ vào hậu quả của hành vi ra bản án trái pháp luật để xác định hậu quả do hành vi ép buộc Thẩm phán ra bản án trái pháp luật. Nếu Thẩm phán kết án oan người vô tội hoặc bỏ lọt người phạm tội thì phải coi đó là hậu quả nghiêm trọng, nhưng nếu Thẩm phán ra bản án trái pháp luật chỉ gây thiệt cho đương sự trong vụ án dân sự 10 triệu đồng thì chưa coi là hậu quả nghiêm trọng.

 

Tóm lại, hậu quả nghiêm trọng do hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật phụ thuộc vào hậu quả do hành vi làm trái pháp luật của nhân viên tư pháp. Ngoài ra, hậu quả do hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật còn là những thiệt hại gây ra cho chính nhân viên tư pháp như: khi bị phát hiện, nhân viên có thể bị xử lý kỷ luật, bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội tương ứng do hành vi làm trái pháp luật gây ra hoặc do bị ép buộc làm trái pháp luật mà nhân viên tư pháp có thể bị khủng hoảng tinh thần, bị sốc hoặc dẫn đến tự sát…

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật ngoài hành vi khách quan, hậu quả nhà làm luật còn quy định một dấu hiệu khách quan rất quan trọng, nếu thiếu nó thì hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật chưa cấu thành tội phạm, đó là tính trái pháp luật của hành vi mà nhân viên tư pháp thực hiện.

 

Hành vi của nhân viên tư pháp bị coi là trái pháp luật là hành vi không đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, khi xác định tính trái pháp luật của hành vi mà nhân viên tư pháp thực hiện phải xem xét một cách toàn diện, không chỉ căn cứ vào quy định của pháp luật mà còn phải căn cứ vào tính chất nguy hiểm cho xã hội và thiệt hại gây ra cho Nhà nước, tổ chức và công dân. Nếu hành vi trái pháp luật của nhân viên tư pháp đã gây ra cho Nhà nước, tổ chức và công dân là thiệt hại nghiêm trọng thì hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật mới bị coi là hành vi phạm tội.

 

Có thể nói tính trái pháp luật của nhân viên tư pháp phải là trái pháp luật nghiêm trọng; nếu hành vi làm trái pháp luật của nhân viên chưa phải là nghiêm trọng thì người có chức vụ, quyền hạn ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật chưa bị coi là tội phạm mà tuỳ trường hợp có thể bị xử lý kỷ luật.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc bỏ mặc cho hậu quả xảy ra.

 

Cũng như đối với một số tội phạm quy định trong chương này, điều luật không quy định động cơ là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội là rất cần thiết. Căn cứ vào động cơ phạm tội mà có thể xác định hành vi của người phạm tội có phải là hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật hay không. Ngoài ra, việc xác định động cơ còn có ý nghĩa rất quan trọng trong việc xử lý người có chức vụ, quyền hạn và khi quyết định hình phạt nếu bị truy cứu trách nhiệm hình sự. 

 

Nếu người có chức vụ, quyền hạn nhận hối lộ mà ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật thì ngoài tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật ra còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.

 

Nếu người có chức vụ, quyền hạn vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác mà ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật thì cần phải xử lý nghiêm khắc hơn vì động cơ chạy theo thành tích, cục bộ địa phương.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 297 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 297 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 297 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội không vì động cơ xấu hoặc không bị truy cứu về tội nhận hối lộ để ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt dưới sáu tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội vì động cơ cá nhân hoặc bị truy cứu về tội nhận hối lộ để ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 297 Bộ luật hình sự

 

a. Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn nguy hiểm, xảo quyệt  khác

 

Điểm a khoản 2 của điều luật quy định một số tình tiết là yếu tố định khung hình phạt có tính chất, mức độ nguy hiểm tương tự, nhưng lại có nội dung khác nhau, nên khi xác định cũng như áp dụng cần chú ý: nếu người phạm tội chỉ thực hiện một trong các tình tiết quy định tại điểm a khoản 1 của điều luật thì chỉ xác định tình tiết đó, mà không xác định tất cả các tình tiết mà nhà làm luật quy định tại điểm a khoản 1 của điều luật. Ví dụ: người phạm tội chỉ dùng thủ đoạn xảo quyệt thì chỉ xác định người phạm tội đã dùng thủ đoạn xảo quyệt để ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật.

 

Dùng vũ lực để ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật là dùng sức mạnh vật chất tác động đến thân thể nhân viên tư pháp. Sự tác động này có thể gây thương tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ của nhân viên tư pháp nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích hoặc tổn hại đến sức khoẻ của nhân viên tư pháp. Ví dụ: Dùng súng dí vào đầu, dùng dao găm dí vào vào cổ… hành vi này cũng tương tự như đối với hành vi dùng vũ lực trong tội cướp tài sản.

 

Đe doạ dùng vũ lực là bằng hành động hoặc lời nói làm cho nhân viên tư pháp vì sợ mà làm trái pháp luật; người có chức vụ, quyền hạn chỉ đe doạ chứ không thực hiện hành vi vũ lực nếu nhân viên tư pháp không làm trái pháp luật. Hành vi này tương tự như đối với hành vi khách quan trong tội cưỡng đoạt tài sản.

 

Dùng các thủ đoạn nguy hiểm là người phạm tội sử dụng phương pháp gây nguy hại đến tính mạng, sức khoẻ của nhân viên tư pháp và những người khác như: Bỏ thuốc độc vào bể nước uống; dùng dây chăng qua đường khi nhân viên tư pháp đi xe qua vướng vào dây bị ngã…Tính nguy hiểm của những thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng không phụ thuộc vào phương tiện mà phụ thuộc vào phương pháp sử dụng, có thể phương tiện không chứa đựng khả năng gây nguy hại cho tính mạng, sức khoẻ nhưng do người phạm tội biết cách sử dụng những phương tiện đó nên tạo ra khả năng gây nguy hại cho tính mạng, sức khoẻ của nhân viên tư pháp hoặc của người khác.

 

Dùng các thủ đoạn xảo quyệt là khi thực hiện hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật, người phạm tội có những mánh khoé, cách thức gian dối, thâm hiểm làm cho nhân viên tư pháp khó lường trước để đề phòng như: mời nhân viên tư pháp đi ăn uống, đi hát Karaoke có tiếp viên rồi bố trí quay phim, chụp ảnh và dùng phim ảnh đó để khống chế nhân viên tư pháp phải làm trái pháp luật.

 

b. Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự với trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại khoản 1 của điều luật đã phân tích ở trên, chỉ khác ở chỗ mức độ nghiêm trọng cao hơn so với trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật là những thiệt hại do hành vi ép buộc của người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp gây ra hoặc do hành vi làm trái pháp luật của nhân viên tư pháp bị ép buộc gây ra.

 

Đối với thiệt hại do hành vi của người có chức vụ, quyền hạn trực tiếp gây ra là những thiệt hại do hành vi ép buộc nhân viên tư pháp gây ra cho xã hội, không tính các thiệt hại do hành vi làm trái pháp luật của nhân viên tư pháp bị ép buộc. Nói chung, những thiệt hại do hành vi ép buộc của người có chức vụ, quyền hạn nếu trực tiếp gây ra thiệt hại nghiêm trọng thì đều rơi vào trường hợp dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm, xảo quyệt mà người phạm tội gây ra cho chính nhân viên tư pháp. Tuy nhiên, ngoài các thiẹt hại mà người phạm tội trực tiếp gây ra cho nhân viên tư pháp thì bằng hành vi ép buộc cũng có thể trực tiếp gây ra hậu quả nghiêm trọng cho xã hội mà không cần phải thông qua hành vi làm trái pháp luật của nhân viên tư pháp. Ví dụ: Một Chánh án Toà án huyện không chịu sự ép buộc của người có chức vụ, quyền hạn để làm trái pháp luật, mà xin từ chức làm cho việc giải quyết các vụ án của Toà án huyện đó bị gián đoạn, bị quá hạn ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động bình thường của Toà án huyện đó.

 

Hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi làm trái pháp luật của nhân viên tư pháp bị ép buộc gây ra là những thiệt hại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho xã hội do hành vi làm trái pháp luật của nhân viên tư pháp gây ra cho cơ quan, tổ chức và công dân. Những thiệt hại này nói chung xác định không khó khăn, nhưng vấn đề khó khăn là ở chỗ thế nào là rất nghiêm trọng, là đặc biệt nghiêm trọng ? Ví dụ: do bị ép buộc mà một Viện trưởng Viện kiểm sát đã bắt giam và truy tố một người mà họ biết rõ là không có tội thì coi là hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng ? Đây là vấn đề cả về lý luận và thực tiễn chưa được giải quyết, nên việc áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự về các tội xâm phạm hoạt động tư pháp nói chung và tội ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật nói riêng rất khó khăn.

 

Ngoài ra, khi áp dụng tình tiết này, Toà án có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôic cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật gây ra. Tuy nhiên, việc tham khảo Thông tư này chỉ có ý nghĩa đối với một số trường hợp sao cho phù hợp với hành vi cụ thể và trong trường hợp cụ thể.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 297 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật hoặc chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng, phạm tội với động cơ không xấu hoặc không kèm theo tội nhận hối lộ và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù nhưng không được dưới sáu tháng tù.

 

 Nếu thuộc nhiều trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật hoặc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, phạm tội với động cơ xấu hoặc có kèm theo tội nhận hối lộ và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

3. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm. Mặc dù Điều chỉ quy định có thể, nhưng đối với loại tội phạm này, Toà án nên áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ đối với người phạm tội. Cũng như đối với một số tội phạm quy định trong chương này, khi áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ của người phạm tội, phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, chức vụ mà họ đang đảm nhiệm, cũng như việc lợi dụng chức vụ đó để ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật. Nếu một người có nhiều chức vụ khác nhau nhưng chỉ lợi dụng một chức vụ để ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật thì Toà án cũng có thể chỉ cấm đảm nhiệm chức vụ mà người đó đã lợi dụng để ép nhân viên tư pháp làm trái pháp luật, còn các chức vụ khác có thể không bị cấm đảm nhiệm. Tuy nhiên, nếu để người phạm tội sau khi chấp hành xong hình phạt tù mà đảm nhiệm những chức vụ dễ dẫn đến người phạm tội lợi dụng để trục lợi thì Toà án cũng có thể cấm đảm nhiệm mà không nhất thiết chỉ cấm đảm nhiệm chức vụ mà người phạm tội lợi dụng để ép nhân viên tư pháp làm trái pháp luật.  Cũng như đối với một số tội phạm quy định trong chương này, khi áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ của người phạm tội, phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể, chức vụ mà họ đang đảm nhiệm, cũng như việc lợi dụng chức vụ đó để ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật. Nếu một người có nhiều chức vụ khác nhau nhưng chỉ lợi dụng một chức vụ để ép buộc nhân viên tư pháp làm trái pháp luật thì Toà án cũng có thể chỉ cấm đảm nhiệm chức vụ mà người đó đã lợi dụng để ép nhân viên tư pháp làm trái pháp luật, còn các chức vụ khác có thể không bị cấm đảm nhiệm. Tuy nhiên, nếu để người phạm tội sau khi chấp hành xong hình phạt tù mà đảm nhiệm những chức vụ dễ dẫn đến người phạm tội lợi dụng để trục lợi thì Toà án cũng có thể cấm đảm nhiệm mà không nhất thiết chỉ cấm đảm nhiệm chức vụ mà người phạm tội lợi dụng để ép nhân viên tư pháp làm trái pháp luật. 

 

 6. TỘI DÙNG NHỤC HÌNH 

 

Điều 298. Tội dùng nhục hình 

 

1. Người nào dùng nhục hình trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Dùng nhục hình là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án đã dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn khác gây tổn hại đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự đối với người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, người bị kết án  và những người tham gia tố tụng khác.

 

Tội dùng nhục hình là tội phạm đã được quy định tại Điều 234 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

So với Điều 234 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 298 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Điều 234 Bộ luật hình sự năm 1985 cấu tạo hai khoản, còn Điều 298 Bộ luật hình sự năm 1999 cấu tạo thành 4 khoản trong đó khoản 4 là hình phạt bổ sung, bổ sung khoản 3 với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt là“gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”; và sửa thuận ngữ “trong hoạt động tư pháp” bằng thuật ngữ “trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án”.

 

Về hình phạt, do yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này ngoài việc quy định thêm khung hình phạt tăng nặng thì mức hình phạt cao nhất của tội phạm này là mười hai năm thay vì chỉ có bảy năm như Điều 234 Bộ luật hình sự năm 1985; bỏ loại hình phạt cải tạo không giam giữ quy định tại khoản 1 của điều luật. Tuy nhiên, thực tiễn đấu tranh phòng chống loại tội phạm này cũng gặp nhiều khó khăn, rất ít trường hợp người có hành vi nhục hình bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó chánh án Toà án; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký Toà án, các cán bộ trong các Nhà tạm giữ, Trại tạm giam, Trại giam (Ban giám thị, Quản giáo) mới có thể thực hiện được tội phạm này.

 

Thực tiễn cho thấy, những người như Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó chánh án Toà án; Thư ký Toà án; Hội thẩm khó có điều kiện để thực hiện hành vi dùng nhục hình, mà chỉ có Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra và Điều tra viên, cán bộ trong các Nhà tạm giữ, Trại tạm giam, Trại giam mới có điều kiện thực hiện hành vi dùng nhục hình.

 

Khi xác định chủ thể của tội phạm này cần chú ý: đối với những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự nhưng không trực tiếp tham gia điều tra, truy tố, xét xử , thi hành án hình sự mà có hành vi dùng nhục hình người tham gia tố tụng thì không phải là chủ thể của tội phạm này. Ví dụ: Nguyễn Văn K là cảnh sát hình sự trong lúc tham gia bắt Phạm Văn H có hành vi chống người thi hành công vụ, Nguyễn Văn K đã dùng vũ lực đối với  Phạm Văn H làm cho H bị khâu 5 mũi ở đầu, nhưng sau khi Phạm Văn H bị khởi tố, Nguyễn Văn K không được phân công điều tra; lợi dụng việc mình bị K đánh nên H nại ra rằng do bị dùng nhục hình nên mới nhận tội. Hành vi gây thương tích cho H của K chỉ là hành vi gây thương tích cho người khác trong khi thi hành công vụ chứ không phải hành vi dùng nhục hình. 

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội dùng nhục hình không chỉ xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người bị nhục hình mà còn làm giảm uy tín của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án và Cơ quan thi hành án hình sự. Nhà làm luật quy định hành vi dùng nhục hình là tội phạm, xuất phát từ nguyên tắc quy định tại Điều 6 Bộ luật tố tụng hình sự (bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân thể của công dân) “nghiêm cấm mọi hình thức truy bức, nhục hình”.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là người bị nhục hình, họ là nạn nhân của hành vi nhục hình. Người bị nhục hình đa số là bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bị kết án đang cải tạo trong các trại giam; còn đối với những người tham gia tố tụng khác ít là đối tượng tác động của tội phạm này. Tuy nhiên, về lý thuyết thì những người này vẫn có thể là đối tượng tác động của hành vi dùng nhục hình. Ví dụ: Đặng Vương H bị nghi là có liên quan đến hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của Đinh Văn S, nên đã bị Cơ quan điều tra triệu tập đến để lấy lời khai, Điều tra viên Trần Quốc T đã cùm chân H ba ngày liền buộc H phải khai gian dối về hành vi của Đinh Văn S nên được tha về. Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và Toà án đã xác định Đặng Vương H là người làm chứng trong vụ án. Tại phiên toà H đã tố cáo hành vi dùng nhục hình của Điều tra viên T và khai thật về hành vi của Đinh Văn S.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự có thể thực hiện một hoặc một số hành vi sau:

 

Tra tấn, đánh đập, bắt nhịn ăn, nhịn uống, cho ăn cơm thừa, canh cặn, không cho ngủ, cùm kẹp, hỏi cung suốt ngày đêm, bắt phơi nắng, bắt tắm nước lạnh vào mùa đông hoặc có hành vi khác gây đâu đớn về thể xác và tinh thần đối với người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo, người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù trong các trại giam hoặc những người tham gia tố tụng khác.

 

Việc xác định hành vi dùng nhục hình không phải đơn giản vì tính chất của hành vi này rất khó phát hiện, bởi lẽ người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn, có trình độ pháp luật và bao giờ cũng dùng thủ đoạn tinh vi, xảo quyệt để che giấu hành vi của mình; khi bị tố cáo, họ thường tìm cách chối cãi và đòi đưa ra bằng chứng, mà người bị nhục hình vì ở “thế yếu” nên không đưa được ra bằng chứng xác thực, nên không có căn cứ xác định người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự có hành vi dùng nhục hình.

 

Ngược lại, có nhiều trường hợp người bị tạm giữ, tạm giam, trong quá trình điều tra đã khai nhận dầy đủ hành vi phạm tội của mình, nhưng tại phiên toà lại chối tội; khi được hỏi vì sao tại Cơ quan điều tra bị cáo lại nhận tội thì được trả lời là do bị bức cung, nhục hình nên phải nhận tội nhưng lại không đưa ra được bằng chứng nào là mình bị nhục hình. Vì vậy, khi xác định người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự có hành vi nhục hình hay không phải rất khách quan; không thể chỉ căn cứ vào lời tố cáo của người tham gia tố tụng hay lời chối cãi của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự, mà phải căn cứ vào tất cả các yếu tố để xác định sự thật vụ án.

 

Nếu dùng nhục hình mà hành vi cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người có hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả tội dùng nhục hình và tội phạm tương ứng. Ví dụ: Nếu dùng nhục hình mà làm cho nạn nhân chết chỉ người có hành vi dùng nhục hình bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người với tình tiết định khung hình phạt là “bằng cách lợi dụng nghề nghiệp” hoặc tình tiết “thực hiện tội phạm một cách man rợ”. Nếu dùng nhục hình mà gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người bị nhục hình có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên thì người có hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự hình sự về tội dùng nhục hình và tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác”. Tuy nhiên, việc truy cứu trách nhiệm hình sự người có hành vi dùng nhục hình thêm một tội khác cần phải bảo đảm nguyên tắc, hành vi dùng nhục hình đã vượt quá, vượt ra ngoài các dấu hiệu cấu thành tội dùng nhục hình hoặc bản thân hành vi dùng nhục hình cấu thành một tội độc lập. Ví dụ: hành vi bắt phạm nhân cởi bỏ hết quần áo đứng phơi nắng hoặc trước đám đông để cho phạm nhân xấu hổ. Hành vi này vừa cấu thành tội dùng nhục hình, vừa cấu thành tội làm nhục người khác nhưng hành vi làm nhục này lại là dấu hiệu của hành vi dùng nhục hình nên không thể truy cứu thêm tội làm nhục người khác nữa. 

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện hành vi dùng nhục hình là tội phạm đã hoàn thành. Nếu hậu quả do hành vi dùng nhục hình gây ra là nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì tuỳ trường hợp người phạm tội bị truy cứu theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

 

Trường hợp hành vi dùng nhục hình gây ra hậu quả mà do gây ra hậu quả đó mà hành vi dùng nhục hình cấu thành một tội phạm độc lập khác thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng với thiệt hại mà người phạm tội đã gây ra cho người bị nhục hình như đã nêu ở hành vi khách quan của tội phạm.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội dùng nhục hình, ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật không quy định dấu hiệu khách quan nào khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, khi xác định các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội phạm này, cũng cần phải nghiên cứu các quy định của pháp luật về chế độ giam, giữ, cải tạo đối với người bị tạm giữ, tạm giam, người bị kết án đang cải tạo ở các Trại giam và các quy định của luật tố tụng (chủ yếu là tố tụng hình sự) về việc triệu tập, xét hỏi, lấy lời khai của những người tham gia tố tụng. Ví dụ: đối với người phạm tội đặc biệt nguy hiểm như giết người, cướp tài sản hoặc người đã bị kết án tử hình chế độ giam giữ sẽ nghiêm ngặt hơn đối với người phạm tội ít nghiêm trọng hoặc phạm tội do vô ý. Có thể cùng là việc cùm chân, những đối với người này thì đó là hành vi dùng nhục hình, nhưng đối với người khác thì đó lại là hành vi hợp pháp. 

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội dùng nhục hình thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra hoặc tuy chỉ thấy trước hậu quả của hành vi đó có thể xảy ra, tuy không mong muốn nhưng vẫn có ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

 

Động cơ tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội là rất cần thiết. Nếu người phạm tội vì động cơ cá nhân hoặc động xấu khác thì sẽ bị phạt nặng hơn người phạm tội vì động cơ nóng vội, vì thành tích, muốn hoàn thành việc điều tra kết thúc vụ án sớm.

 

Trường hợp người phạm tội biết rõ người bị tạm giữ, tạm giam, bị can, bị cáo là người không có mà dùng nhục hình để buộc họ phải nhận tội thì ngoài tội dùng nhục hình, người có chức vụ, quyền hạn trong hoạt động tư pháp còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội, nếu các dấu hiệu khác thoả mãn yếu tố cấu thành tội phạm đó.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 298 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 298 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội vì động cơ nóng vội, vì thành tích, muốn hoàn thành việc điều tra kết thúc vụ án sớm, chứ không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt dưới sáu tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ các nhân khác và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 298 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật nhà làm luật chỉ quy định một tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như một số trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng quy định trong các điều luật ở chương này nên có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi dùng nhục hình gây ra.

 

Trong các thiệt hại do hành vi dùng nhục hình gây ra, có những thiệt hại lại là dấu hiệu cấu thành một tội phạm độc lập như thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm, danh dự của người bị nhục hình. Ví dụ:  Do hành vi dùng nhục hình mà gây thiệt hại tính mạng cho người bị nhục hình thì tuỳ trường hợp mà người có hành vi dùng nhục hình có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người. Ví dụ: đánh đập người bị tạm giam cho đến chết thì là phạm tội giết người, nhưng nếu đánh đập dẫn đến người bị tam giam tự sát thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội dùng nhục hình gây quả nghiêm trọng.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 298 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt, nếu người phạm tội chỉ vì động cơ nóng vội, vì thành tích, muốn hoàn thành việc điều tra kết thúc vụ án sớm, chứ không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù nhưng không được dưới sáu tháng tù. Nếu người phạm tội vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ các nhân khác và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 298 Bộ luật hình sự

 

Cũng như khoản 3 các Điều 295 và  296, khoản 3 Điều 298 Bộ luật hình sự quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôic cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi dùng nhục hình gây ra.

 

Tuy nhiên, để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi dùng nhục hình gây ra cần chú ý: Nếu hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đã là yếu tố định tội khác ngoài tội dùng nhục hình thì không được tính để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đối với người phạm tội theo khoản 3 Điều 298 Bộ luật hình sự nữa như: thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm của bị nhục hình do hành vi dụng nhục hình trực tiếp gây ra cho người bị nhục hình.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 298 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt, nếu người phạm tội chỉ vì động cơ nóng vội, vì thành tích, muốn hoàn thành việc điều tra kết thúc vụ án sớm, chứ không vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng, và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới năm năm tù nhưng không được dưới hai năm tù.

 

 Nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng, người phạm tội vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ các nhân khác và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười hai năm tù.

 

4. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm. Khi áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ đối với người phạm tội dùng nhục hình, cần căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mà áp dụng cho phù hợp với hành vi phạm tội và chủ thể thực hiện hành vi phạm tội. Nếu người phạm tội là Điều tra viên có hành vi dùng nhục hình thì Toà án có thể chỉ cấm người phạm tội không được đảm nhiệm chức vụ Điều tra viên. Tuy nhiên, nếu đã phạm tội dùng nhục hình thì các chức vụ có liên quan đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử  và thi hành án hình sự cũng không nên để người phạm tội đảm nhiệm sau khi chấp hành xong hình phạt tù.

 

 7. TỘI BỨC CUNG 

 

Điều 299.  Tội bức cung 

 

1. Người nào tiến hành điều tra, truy tố, xét xử mà bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ  nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Bức cung là hành vi của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử đã bằng các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật.

 

Tội bức cung là tội phạm đã được quy định tại Điều 235 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

So với Điều 235 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 299 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Điều 235 Bộ luật hình sự năm 1985 cấu tạo hai khoản, còn Điều 299 Bộ luật hình sự năm 1999 cấu tạo thành 4 khoản trong đó khoản 4 là hình phạt bổ sung, bổ sung khoản 2 với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt là“gây hậu quả rất nghiêm trọng”; chuyển khoản 2 Điều 235 Bộ luật hình sự năm 1985 thành khoản 3 Điều 299 Bộ luật hình sự năm 1999; và sửa thuật ngữ “trong hoạt động điều tra” bằng thuật ngữ “trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử”.

 

Về hình phạt, do yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này, ngoài việc quy định thêm khung hình phạt tăng nặng thì mức hình phạt tù cao nhất của tội phạm này là mười năm thay vì chỉ có bảy năm như Điều 235 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này cũng là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó chánh án Toà án; Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán và Hội thẩm nhân dân, mới có thể thực hiện được tội phạm này.

 

So với tội dùng nhục hình, thì chủ thể của tội bức cung hẹp hơn, vì phạm vi áp dụng đối với tội phạm này chỉ dừng lại trong lĩnh vực thẩm vấn (xét hỏi) nên chỉ có những người có thẩm quyền thẩm vấn mới là chủ thể của tội phạm này.

 

So với Điều 235 Bộ luật hình sự năm 1985 thì chủ thể của tội phạm này lại mở rộng hơn. Nếu Điều 235 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định những người có trách nhiệm trong hoạt động điều tra mới có thể là chủ thể của tội phạm này, thì Điều 299 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định cả những người có trách nhiệm trong hoạt động truy tố và xét xử.

 

Thực tiễn xét xử cho thấy, ngoài những người có thẩm quyền trong hoạt đọng điều tra, truy tố, xét xử ra thì có những người tuy không có thẩm quyền, những họ tham gia vào quá trình lấy lời khai của người tham gia tố tụng và họ có các thủ đoạn trái pháp luật buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật như: Cán bộ, chiến sĩ Công an, Bộ đội biên phòng, Cảnh sát biển, cán bộ Viện kiểm sát, cán bộ Toà án… được người có thẩm quyền giao nhiệm vụ lấy lời khai của người tham gia tố tụng. Vậy đối với những người này có phải là chủ thể của tội bức cung không ? Đây là vấn đề cả về lý luận và thực tiễn xét xử chưa được giải quyết. Tuy nhiên, căn cứ vào chức năng nhiệm vụ, thẩm quyền của người tiến hành tố tụng thì những người này không có thẩm quyền thẩm vấn (lấy lời khai) với tư cách độc lập, mà họ chỉ là người giúp việc cho người có thẩm quyền thẩm vấn người tham gia tố tụng. Do đó họ chỉ có thể là đồng phạm về tội bức cung với người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử chứ không là chủ thể độc lập của tội phạm này. Hiện nay, không ít trường hợp người có thẩm quyền giao cho người không có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng lấy lời khai của người tham gia tố tụng, mà không có sự tham gia của người có thẩm quyền là trái quy định của luật tố tụng.

 

Nếu người có thẩm quyền biết rõ người giúp việc mình (người không có thẩm quyền) có hành vi bức cung nhưng không có ý kiến gì, mà đồng tình và ký vào biên bản lấy lời khai thì người có thẩm quyền vẫn bị coi là có hành vi bức cung. Nếu do thiếu kiểm tra, đôn đốc mà người có thẩm quyền để cho người không có thẩm quyền có hành vi bức cung mà người có thẩm quyền không biết thì tuỳ trường hợp mà người có thẩm quyền phải chịu trách nhiệm về hành vi thiếu trách nhiệm của mình.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội bức cung không chỉ xâm phạm đến uy tín của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án; xâm phạm đến nguyên tắc xác định sự thật của vụ án. Do bị bức cung đã làm cho người bị thẩm vấn khai sai sự thật có thể dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, hoặc gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho các đương sự trong vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là người bị bức cung. Khác với tội dùng nhục hình, người bị bức cung không chỉ đa số là bị can, bị cáo đang bị tạm giam, người bị kết án đang cải tạo trong các trại giam, mà còn đối với những người tham gia tố tụng khác trong vụ án hình sự.

 

Có ý kiến cho rằng, đối tượng tác động của tội bức cung chỉ đối với người bị tạm giam, tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị kết án trong vụ án hình sự còn đối với những người tham gia tố tụng khác trong vụ án hình sự không phải là đối tượng tác động của tội phạm này. Bởi lẽ, thuật ngữ “bức cung” chỉ đuợc dùng trong vụ án hình sự vì xuất phát từ các thuật ngữ như: lấy cung, đi cung, lập bản cung, cung khai, khai cung v.v… không ai nói lấy cung đương sự cả mà chỉ có thể nói lấy lời khai dương sự, lời khai người làm chứng v.v… Mặt khác khi quy định tội bức cung, lúc đầu nhà làm luật cũng chỉ giới hạn ở hành vi của người có thẩm quyền trong Cơ quan điều tra, do yêu cầu của xã hội nên Điều 299 Bộ luật hình sự năm 1999 mới quy định thêm người có thẩm quyền trong hoạt động truy tố, xét xử, nhưng vẫn chỉ trong phạm vi vụ án hình sự và chỉ đối với người phạm tội. Nếu người làm chứng, người bị hại trong vụ án hình sự do bị bức cung mà khai báo gian dối thì người có hành vi bức cung sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “cưỡng ép người khác khai báo gian dối” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 309 Bộ luật hình sự. Đây cũng là vấn đề mà theo chúng tôi cần phải tiếp tục nghiên cứu. Nếu đối tượng tác động của tội phạm này chỉ bao gồm người có hành vi phạm tội thì điều văn của điều luật phải quy định lại cho rõ, còn nếu điều văn của điều luật như hiện nay thì người bị thẩm vấn không chỉ có bị can, bị cáo mà còn những người tham gia tố tụng khác tỏng vụ án hình sự.

 

Người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật về các tình tiết khách quan của vụ án là do bị bức cung. Nếu bị bức cung nhưng người bị bức cung vẫn không chịu khai sai sự thật thì hành vi bức cung chưa cấu thành tội phạm. Khai sai sự thật là khai không đúng với các tình tiết khách quan của vụ án, làm cho việc xác định sự thật của vụ án bị ảnh hưởng, thậm chí sai lầm nghiêm trọng dẫn đến kết án oan người vô tội hoặc để lọt tội phạm hoặc gây thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và công dân. Trong trường hợp này, nếu người bị bức cung là người làm chứng hoặc người bị hại trong vụ án hình sự mà khai báo gian dối thì được miễn trách nhiệm hình sự về tội khai báo gian dối.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Bức cung là cưỡng bức người bị thẩm vấn phải khai theo ý muốn của người hỏi cung. Hành vi cưỡng bức của người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, có thể được biểu hiện như sau:

 

Đe doạ dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần hoặc đe doạ sẽ gây thiệt hại về vật chất đối với người tham gia tố tụng như: Nếu không khai sai sự thật thì sẽ bị nhốt vào phòng biệt giam, sẽ để đói, để khát, không cho nhận quà… (đối với bị can, bị cáo đang bị tạm giam); nếu khai sai sự thật thì sẽ cho công bố thư, ảnh, lời nói, hành động… liên quan đến bí mật đời tư; không cho lên lương, không cơ cấu, bổ nhiệm, đề bạt hoặc sẽ bị thiệt hại về những quyền lợi khác (đối với người tham gia tố tụng khác).

 

Hành vi đe doạ dùng vũ lực, uy hiếp tinh thần hoặc đe doạ gây thiệt hại vật chất đối với người bị thẩm vấn chỉ có tính chất đe doạ, nếu người bị thẩm vấn không khai sai sự thật thì người thẩm vấn cũng không thực hiện lời đe doạ.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi bức cung chưa làm cho người bị bức cung khai sai sự thật và chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì hành vi bức cung chưa cấu thành tội phạm.

 

Người bị bức cung khai sai sự thật là khai không đúng các tình tiết khách quan của vụ án, khai sai sự thật là hành vi của người bị bức cung nhưng nó lại là hậu quả của hành vi bức cung, nó chính là mong muốn của người có hành vi bức cung. Nếu người bị bức cung vẫn không khai sai sự thật thì hành vi bức cung cũng chưa cấu thành tội phạm này. Việc người bị bức cung khai sai sự thật là dấu hiệu bắt buộc và nếu thiếu nó thì hành vi bức cung chưa cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, hành vi bức cung là hành vi vi phạm pháp luật, và tuỳ trường hợp cụ thể mà người có hành vi đó có thể bị xử lý kỷ luật hoặc vụ án đó sẽ bị huỷ để điều tra lại hoặc xét xử vì vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng. 

 

Hậu quả nghiêm trọng do hành vi bức cung gây ra là những thiệt hại nghiêm trọng về vật chất và phi vật chất cho xã hội. Những thiệt hại vật chất có thể tính bằng một sô tiền, nhưng đối với thiệt hại phi vật chất do hành vi bức cung gây ra, mà những thiệt hại này mới là chủ yếu thì không thể tính bằng tiền được như: do người bị thẩm vấn khai sai sự thật nên có thể làm oan người vô tội, hoặc bỏ lọt người phạm tội, làm mất uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó khi xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi bức cung gây ra, không chỉ căn cứ vào những thiệt hại về vật chất, mà phải xem xét đến các thiệt hại phi vật chất của từng trường hợp cụ thể mà xác định hậu quả đó đã là nghiêm trọng hay chưa.

 

Đối với các thiệt hại về vật chất hoặc thể chất, có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi bức cung gây ra.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội bức cung, ngoài hành vi khách quan, hậu quả do hành vi phạm tội gây ra, nhà làm luật còn quy định một số dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành, đó là: thủ đoạn mà người phạm tội sử dụng phải là trái pháp luật.

 

Nếu trong hoạt động điều tra, đặc biệt trong khi thẩm vấn người thẩm vấn có thể sử dụng kỹ năng xét hỏi để người tham gia tố tụng phải khai đúng sự thật về các tình tiết của vụ án thì không phải là trái pháp luật.

 

Một dấu hiệu khách quan khác cũng rất quan trọng và cũng còn ý kiến khác nhau, đó là hành vi bức cung được thực hiện đối với tất cả vụ án hay chỉ đối với vụ án hình sự ? Để trả lời câu hỏi trên, cần phải làm rõ khái niệm “thẩm vấn” trong hoạt động tố tụng.

 

Thẩm vấn là một hình thức điều tra bằng lời nói (hỏi và đáp) như: lấy lời khai của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện của những người này.

 

Khái niệm thẩm vấn, nếu hiểu theo nghĩa hẹp thì chỉ là hoạt động xét hỏi của Hội đồng xét xử, Kiểm sát viên đối với những người tham gia tố tụng tại phiên toà. Thẩm vấn là một hình thức điều tra công khai, trực diện giữa Hội đồng xét xử và Kiểm sát viên với người tham gia tố tụng. Khái niệm thẩm vấn trước đây thường được dùng như là một giai đoạn của tố tụng tại phiên toà sau khi đã kết thúc phần thủ tục tại phiên toà. Thông thường, chủ toạ phiên toà sau khi đã kiểm tra căn cước người tham gia tố tụng; giải thích quyền và nghĩa vụ cho những người tham gia tố tụng… thì tuyên bố kết thúc phần thủ tục, chuyển sang phần thẩm vấn và giới thiệu Kiểm sát viên công bố bản cáo trạng rồi tiến hành việc thẩm vấn. Hiện nay, mặc dù Bộ luật tố tụng hình sự không còn quy định giai đoạn thẩm vấn tại phiên toà mà quy định là giai đoạn “xét hỏi” nhưng một số Thẩm phán vẫn quen tuyên bố “chuyển sang phần thẩm vấn”. Nếu hiểu khái niệm “thẩm vấn” hiểu theo nghĩa này thì chỉ có Hội đồng xét xử mới có thể là chủ thể của tội phạm này. Hiện nay khái niệm “thẩm vấn” được một số nhà khoa học dùng khi cần phân biệt giữa hai hệ thống pháp luật (luật án lệ với luật thành văn; tố tụng tranh tụng với tố tụng thẩm vấn) trong một số sách báo. Bộ luật tố tụng hình sự không không dùng thuật ngữ “thẩm vấn” mà tuỳ từng giai đoạn tố tụng mà dùng thuật ngữ “hỏi cung, lấy lời khai” (trong giai đoạn điều tra, truy tố); “xét hỏi” (tại phiên toà). Tinh thần của Điều 299 Bộ luật hình sự không giới hạn bởi việc xét hỏi tại phiên toà (thẩm vấn), mà bao gồm cả việc lấy lời khai của bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện của những người này. Do đó cần phải hiểu khái niệm “thẩm vấn” theo nghĩa rộng, tức là bao gồm việc hỏi cung, lấy lời khai, xét hỏi tại phiên toà.

 

Thẩm vấn là khái niệm chỉ có trong hoạt động tố tụng hình sự; người có quyền thẩm vấn là những người tiến hành tố tụng và người bị thẩm vấn là bị can, bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án và người đại diện của những người này. Do đó nếu trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính nếu người tiến hành tố tụng có những hành vi trái pháp luật nhằm làm cho người tham gia tố tụng khai không đúng sự thật thì không phải là đối tượng điều chỉnh của tội phạm này. Trước đây, Điều 235 Bộ luật hình sự năm 1985 cũng chỉ quy định: “người nào tiến hành điều tra”, nay Điều 299 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “người nào tiến hành điều tra, truy tố, xét xử” nhưng không có nghĩa là bao gồm cả hành vi bức cung trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính; trong các vụ án này không có khái niệm “hỏi cung” nên cũng không thể có bức cung.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội bức cung thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.

 

Động cơ phạm tội cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội là rất cần thiết. Nếu người phạm tội vì động cơ cá nhân hoặc động xấu khác thì sẽ bị phạt nặng hơn người phạm tội vì động cơ nóng vội, muốn hoàn thành việc điều tra kết thúc vụ án.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 299 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 299 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 299 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội không vì động cơ xấu mà chỉ vì nôn nóng, thành tích, muốn hoàn thành nhiệm vụ và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt dưới sáu tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội có vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ khác và nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 299 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật nhà làm luật chỉ quy định một tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như một số trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định trong các điều luật ở chương này nên có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi bức cung gây ra.

 

Tuy nhiên, cũng như trường hợp hậu quả nghiêm trọng do hành vi bức cung gây ra, khi xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cần xem xét đến những thiệt hại phi vật chất do người bị thẩm vấn khai sai sự thật ra ra như: do người làm chứng khai sai sự thật nên dẫn đến việc kết án oan người không có tội hoặc để lọt tội phạm nguy hiểm; bị bức cung mà bị cáo khai sai sự thật dẫn đến chính bản thân họ bị kết án oan.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 299 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt, nếu người phạm tội nếu người phạm tội không vì động cơ xấu mà chỉ vì nôn nóng, thành tích, muốn hoàn thành nhiệm vụ và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù nhưng không được dưới sáu tháng tù. Nếu vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ khác và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 299 Bộ luật hình sự

 

Khoản 3 Điều 299 Bộ luật hình sự cũng chỉ quy định một tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôic cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi bức cung gây ra.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 299 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ năm năm đến mười năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu nếu người phạm tội không vì động cơ xấu mà chỉ vì nôn nóng, thành tích, muốn hoàn thành nhiệm vụ và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới năm năm tù nhưng không được dưới hai năm tù; nếu vì động cơ vụ lợi hoặc động cơ khác và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười năm tù.

 

4. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm. Khi áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ đối với người phạm tội bức cung cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội đang đảm nhiệm các chức vụ gì và nếu để họ tiếp tục giữ các chức vụ đó sau khi chấp hành xong hình phạt tù thì họ có thể lại có hành vi bức cung. Đối với các chức vụ không có liên quan đến hành vi bức cung, thì không nhất thiết Toà án phải cấm đảm nhiệm.

 

8. TỘI LÀM SAI LỆCH HỒ SƠ VỤ ÁN

 

Điều 300. Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án 

 

1. Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự nào mà thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án, thì bị phạt tù từ một năm đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ, làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Làm sai lệch hồ sơ vụ án là hành vi thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự.

 

Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án là tội phạm đã được quy định tại Điều 236 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

So với Điều 236 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 300 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Điều 236 Bộ luật hình sự năm 1985 cấu tạo hai khoản, còn Điều 300 Bộ luật hình sự năm 1999 cấu tạo thành 4 khoản trong đó khoản 4 là hình phạt bổ sung, bổ sung khoản 3 với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt là“gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”; bổ sung thêm tình tiết “phạm tội có tổ chức” là yếu tố định khung hình phạt ở khoản 2 Điều 300 Bộ luật hình sự năm 1999; bổ sung một số đối tượng là chủ thể của tội phạm này, đó là Thư ký Toà án; sửa đổi chủ thể “luật sư, bào chữa viên” thành “người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự” cho phù hợp với tên gọi của họ theo Bộ luật tố tụng hình sự; sửa đổi, bổ sung một số hành vi khách quan cho phù hợp với yêu cầu đấu tranh phòng chống loại tội phạm này.

 

Về hình phạt, do yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này ngoài việc quy định thêm khung hình phạt tăng nặng thì mức hình phạt cao nhất của tội phạm này là mười lăm năm tù thay vì chỉ có bảy năm tù như Điều 236 Bộ luật hình sự năm 1985; khung hình phạt ở mỗi khoản cũng sửa đổi theo hướng nặng hơn so với Điều 236 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, và được quy định cụ thể ngay trong điều văn của điều luật như:Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

 

Trong số những người có thể là chủ thể của tội phạm này, có cả những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng, nhưng không phải tất cả những người tham gia tố tụng đều có thể là chủ thể của tội phạm này, mà chỉ có người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự mới là chủ thể của tội phạm này, vì những người này mới có điều kiện tiếp xúc hồ sơ vụ án. Theo quy định tại Điều 56 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bào chữa là Luật sư; Người đại diện hợp pháp của người bị tạm giữ, bị can, bị cáo; Bào chữa viên nhân dân và theo quy định tại Điều  59 Bộ luật tố tụng hình sự thì người bảo vệ quyền lợi của đương sự là Luật sư, bào chữa viên nhân dân hoặc người khác được Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Toà án chấp nhận.

 

Đối với những người tiến hành tố tụng, ngoài Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, thì còn có cả nhân viên tư pháp khác không phải là người tiến hành tố tụng. Vậy nhân viên tư pháp nói ở đây bao gồm những người nào ? Nhân viên tư pháp nói ở đây phải là những có thẩm quyền trong hoạt động tố tụng và có điều kiện tiếp xúc hồ sơ vụ án thì mới có thể làm sai lệch hồ sơ vụ án được. Do đó họ chỉ có thể là Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó chánh án; chuyên viên pháp lý Toà án; nhân viên văn thư khi giao nhận hồ sơ vụ án; cán bộ Viện kiểm sát. Khi Quốc hội thông qua Bộ luật hình sự năm 1999 thì Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 chưa được sửa đổi, bổ sung nên Bộ luật tố tụng hình sự năm 1988 chỉ quy định người tiến hành tố tụng bao gồm Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án; nay Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Chánh án, Phó chánh án Toà án cũng là người tiến hành tố tụng và những người này cũng có điều kiện tiếp xúc hồ sơ vụ án. Đối với các chức danh khác như Thẩm tra viên, chuyên viên pháp lý Toà án; cán bộ Viện kiểm sát nếu được phân công thực hiện nhiệm vụ giải quyết vụ án thì họ cũng có điều kiện tiếp xúc hồ sơ vụ án và họ có thể làm sai lệch hồ sơ vụ án.

 

Đối với những người theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự họ không phải là người được tiếp xúc với hồ sơ vụ án mà có hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án thì tuỳ trường hợp họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm độc lập mà không phải là chủ thể của tội phạm này. Ví dụ: Giám định viên vì động cơ khác nhau đã cung cấp cho Luật sư giấy chứng thương có tỷ lệ thương tật thấp hơn hoặc cao hơn tỷ lệ thương tật mà Hội đồng giám định pháp y đã kết luận đang có trong hồ sơ vụ án để Luật sư đánh tráo giấy chứng thương trong hồ sơ vụ án thì hành vi của giám định viện là hành vi phạm tội “cung cấp tài liệu sai sự thật” quy định tại Điều 307 Bộ luật hình sự.

 

Nói tóm lại, chủ thể của tội phạm này bao gồm những người trong các cơ quan tiến hành tố tụng được phân công giải quyết vụ án, có điều kiện tiếp xúc hồ sơ vụ án là có thể trở thành chủ thể của tội phạm này.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội làm sai lệch hồ sơ vụ án xâm phạm trực tiếp đến nguyên tắc xác định sự thật của vụ án. Do hồ sơ vụ án bị làm sai lệch nên việc xác định của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng cũng như người tham gia tố tụng không còn phản ảnh đúng với sự thật của vụ án nữa có thể dẫn đến làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm, hoặc gây ra thiệt hại nghiêm trọng đến lợi ích Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức và cong dân.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là hồ sơ vụ án. Hồ sơ vụ án là một tập tài liệu do cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo quy định của pháp luật bao gồm hồ sơ vụ án hình sự, hồ sơ vụ án dân sự, hồ sơ vụ án kinh tế, hồ sơ vụ án tranh chấp lao động, hồ sơ vụ án hành chính. Mỗi loại án, hồ sơ bao gồm những tài liệu khác nhau được sắp xếp theo một trật tự nhất định theo quy định của pháp luật tố tụng. Người phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án là làm cho các tài liệu có trong hồ sơ vụ án không còn đúng với những giá trị thật của nó.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Làm sai lệch hồ sơ vụ án là thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án.

 

Người làm sai lệch hồ sơ vụ án có thể thực hiện một hoặc một số hành vi sau:

 

Thêm các tài liệu  của vụ án là hành vi đưa thêm vào hồ sơ vụ án những tài liệu, vật chứng không được thu thập theo quy định của pháp luật vào hồ sơ vụ án. Ví dụ: hồ sơ vụ án không có lời khai của người làm chứng Vũ Xuân M nhưng Luật sư Phạm Thanh B đã đưa lời khai của Vũ Xuân M vào hồ sơ vụ án để nhằm gỡ tội cho bị cáo Bùi Văn T là Luật sư B nhận bào chữa.

 

Thêm các vật chứng của vụ án là hành vi đưa thêm vào hồ sơ vụ án không được thu thập theo quy định của pháp luật vào hồ sơ vụ án. Ví dụ: Khi khám nghiệm hiện trường, không thu được đôi dép của bị can, nhưng Điều tra viên đã lấy đôi dép của bị can đi hàng ngày rồi lập biên bản thu giữ đôi dép đưa vào hồ sơ vụ án làm vật chứng của vụ án.

 

Lấy bớt các tài liệu có trong hồ sơ vụ án là hành vi làm cho hồ sơ vụ án thiếu đi những tài liệu đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu thập theo quy định của pháp luật. Ví dụ: Trong khi nghiên cứu hồ sơ vụ án Luật sư Phan Đức M đã lấy bớt một lời khai của người làm chứng mà nội dung của lời khai đó có giá trị buộc tội bị cáo.

 

Lấy bớt vật chứng có trong hồ sơ vụ án là hành vi làm cho hồ sơ vụ án thiếu đi vật chứng đã được cơ quan tiến hành tố tụng thu giữ, bảo quản theo một trình tự do pháp luật quy định. Ví dụ: Điều tra viên đã lấy bớt 1000 viên thuốc lắc mà Cơ quan điều tra đã thu giữ của Mai Thị T nhằm làm nhẹ tội cho T.

 

Sửa đổi các tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án là hành vi làm cho tài liệu đã được thu thập theo quy định của pháp luật không còn nguyên giá trị ban đầu khi cơ quan tiến hành tố tụng thu thập. Ví dụ: Kiểm sát viên Nguyễn Duy Th được phân công kiểm sát điều tra vụ án đã sửa chữa biên bản khám nghiệm hiện trường theo hướng có lợi cho người phạm tội.

 

Đánh tráo các tài liệu, vật chứng có trong hồ sơ vụ án là hành vi thay vào hồ sơ vụ án các tài liệu, vật chứng khác làm cho tài liệu, vật chứng được đưa vào hồ sơ không phản ảnh đúng sự thật khách quan mà cơ quan tiến hành tố tụng thu thập ban đầu. Ví dụ: Vũ Văn P là cán bộ cơ quan thi hành án dân sự được giao quản lý vật chứng của vụ án, được Trần Quốc V là Luật sư bào chữa cho bị cáo móc nối, đã đánh tráo con dao gây án để khi Toà án xét xử Trần Quốc V dễ bào chữa cho bị cáo.

 

 Huỷ hoại hoặc làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án làm cho tài liệu vật chứng mất giá trị ban đầu. Ví dụ: xé bỏ lời khai, hoá đơn, chứng từ trong hồ sơ vụ án; tiêu huỷ vật chứng.

 

Các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án là ngoài các thủ đoạn đã được liệt kê, mà người phạm tội còn có những thủ đoạn khác làm sai lệch hồ sơ vụ án thì cũng là hành vi phạm tội này. Việc nhà làm luật quy định các thủ đoạn khác cũng là nhằm mục đích không để lọt bất cứ  hành vi làm sai lệch vụ án nào mà không bị trừng trị.

 

Hành vi khách quan của tội phạm này, trong một số trường hợp cũng tương tự như hành vi khách quan của một số tội phạm khác quy định trong Bộ luật hình sự. Vì vậy, khi xác định hành vi khách quan của tội phạm này cần phân biệt với một số tội phạm khác như:

 

Khi xác định hành vi huỷ hoại hoặc làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng cần phân biệt với trường hợp chiếm đoạt hoặc tiêu huỷ toàn bộ hồ sơ vụ án. Nếu người phạm tội tiêu huỷ toàn bộ hình sự vụ án thì tuỳ trường hợp mà người phạm tội tiêu huỷ hồ sơ vụ án sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tội cố ý tiêu huỷ tài liệu bí mật Nhà nước quy định tại Điều 263 Bộ luật hình sự hoặc tiêu huỷ tài liệu cơ quan Nhà nước quy định tại Điều 268 Bộ luật hình sự.

 

Khi xác định hành vi hành vi sửa chữa, làm sai lệch các tài liệu có trong hồ sơ vụ án cần phân biệt với trường hợp sửa chữa, làm sai lệch nội dung giấy tờ, tài liệu; làm, cấp giấy tờ giả; giả mạo chữ kỹ của người có chức vụ, quyền hạn quy định trong tội giả mạo trong công tác (Điều 284 Bộ luật hình sự). Người phạm tội giả mạo không phải là người tiến hành tố tụng trong vụ án, không liên quan gì đến vụ án cụ thể nào; những giấy tờ, tài liệu mà người phạm tội giả mạo không phải là tài liệu có trong hồ sơ vụ án mà nó là giấy tờ, tài liệu thuộc lĩnh vực khác.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, chỉ cần người phạm tội thực hiện một trong các thủ đoạn như: thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác làm sai lệch hồ sơ vụ án là tội phạm đã hoàn thành, bất kể kết quả giải quyết vụ án như thế nào đều không có ý nghĩa đến việc định tội đối với người phạm tội.

 

Nếu hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì tuỳ trường hợp mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội làm sai lêch hồ sơ vụ án, ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật không quy dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, để xác định chính xác hành vi khách quan của tội phạm, nếu là tài liệu thì không có gì phức tạp, nhưng nếu là vật chứng của vụ án thì cần phải căn cứ vào quy định của luật tố tụng quy định về việc thu giữ, bảo quản vật chứng của vụ án, trên cơ sở đó mà xác định đó có phải là vật chứng của vụ án hay không, việc thu giữ, bảo quản có đúng với quy định của pháp luật tố tụng hay không.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp), tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án của mình là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra. Nếu vì lý do nào đó mà Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự làm sai lệch hồ sơ vụ án nhưng không cố ý thì tuỳ trường hợp mà họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng quy định tại Điều 285 Bộ luật hình sự hoặc chỉ bị xử lý kỷ luật. Ví dụ: Trịnh Xuân T là thư ký Toà án được giao nhiệm vụ quản lý hồ sơ vụ án, giúp Thẩm phán chủ toạ phiên toà soạn thảo các quyết định, các giấy triệu tập phiên toà…nhưng do thiếu trách nhiệm để mất 12 bút lục trong hồ sơ vụ án.

 

Động cơ phạm tội cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng việc xác định động cơ của người phạm tội là rất cần thiết. Nếu người phạm tội vì động cơ cá nhân hoặc động xấu khác thì sẽ bị phạt nặng hơn người phạm tội vì động cơ nóng vội, muốn hoàn thành việc điều tra kết thúc vụ án. Nếu nhận hối lộ để làm sai lệch hồ sơ vụ án thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ, ngoài tội làm sai lệch hồ sơ vụ án.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 300 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 300 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ một năm đến năm năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 300 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội không vì động cơ xấu hoặc không vì nhận hối lộ mà làm sai lêch hồ sơ vụ án và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt dưới một tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội vì động cơ xấu hoặc vì nhận hối lộ mà làm sai lêch hồ sơ vụ án và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến năm năm tù.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 300 Bộ luật hình sự

 

a. Có tổ chức

 

 Phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án có tổ chức là trường hợp có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức.6

 

Khi xác định hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án có tổ chức cần chú ý:

 

- Đối với người thực hành nhất thiết phải là chủ thể đặc biệt (Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự) và họ phải trực tiếp thực hiện một trong các hành vi: thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng các tài liệu, vật chứng của vụ án hoặc bằng các thủ đoạn khác nhằm làm sai lệch nội dung hồ sơ vụ án. Đối với người khác (không phải là người thực hành) thì có thể là người khác mà không nhất thiết phải là Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Toà án, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương.

 

- Đối với giúp sức có thể có những hành vi độc lập và nếu tách hành vi đó ra để xem xét thì có thể cấu thành tội phạm khác như: tội khai báo gian dối, tội cung cấp tài liệu sai sự thật, tội vi phạm kê biên, niêm phong.v.v… nhưng vì là người giúp sức trong vụ án làm sai lệch hồ sơ vụ án có tổ chức nên họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội phạm đó nữa.

 

b. Gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Hậu quả nghiêm trọng do hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án gây ra là những thiệt hại nghiêm trọng về vật chất và phi vật chất cho xã hội.

 

Những thiệt hại do hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án gây ra trước hết là làm cho việc giải quyết vụ án không đúng pháp luật, có thể dẫn đến các cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự oan người không có tội hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội ; áp dụng điều khoản của Bộ luật hình sự không đúng ; áp dụng hình phạt quá nặng hoặc quá nhẹ đối với bị cáo ; gây thiệt hại nghiêm trọng cho các đương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động.

 

Cũng như đối với một số trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng quy định ở một số tội phạm khác trong chương này, trong khi chưa có hướng dẫn chính thức của cơ quan có thẩm quyền, thì có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án gây ra, nhất là đối với các thiệt hại về vật chất.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 300 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ ba năm đến mười năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu người phạm tội không vì động cơ xấu hoặc không vì nhận hối lộ mà làm sai lêch hồ sơ vụ án và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới ba năm tù nhưng không được dưới một năm tù. Nếu người phạm tội vì động cơ xấu hoặc vì nhận hối lộ mà làm sai lêch hồ sơ vụ án và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười năm tù.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 300 Bộ luật hình sự

 

Khoản 3 Điều 300 Bộ luật hình sự quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt do hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án gây ra là những thiệt hại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng về vật chất và phi vật chất cho xã hội.

 

Những thiệt hại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án gây ra có thể dẫn đến các cơ quan tiến hành tố tụng truy cứu trách nhiệm hình sự oan người không có tội hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, mà tội phạm đó là tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng; gây thiệt hại rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho các đương sự trong các vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động.

 

Trường hợp phạm tội này cũng có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôic cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi làm sai lệch hồ sơ vụ án gây ra, nhất là đối với các thiệt hại về vật chất.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 300 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng, người phạm tội không vì động cơ xấu hoặc không vì nhận hối lộ mà làm sai lêch hồ sơ vụ án và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới bảy năm tù nhưng không được dưới ba năm tù. Nừu người phạm tội vì động cơ xấu hoặc vì nhận hối lộ mà làm sai lêch hồ sơ vụ án và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười lăm năm tù.

 

4. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm. Khi áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ đối với người phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án, phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể mà người phạm tội đang đảm nhiệm các chức vụ gì và nếu để họ tiếp tục giữ các chức vụ đó sau khi chấp hành xong hình phạt tù thì họ có thể lại phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án. Đối với các chức vụ không có liên quan đến hành vi làm sai lệch, thì không nhất thiết Toà án phải cấm đảm nhiệm.

 

 

 9. TỘI THIẾU TRÁCH NHIỆM ĐỂ NGƯỜI BỊ GIAM, GIỮ TRỐN

 

Điều 301. Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn 

 

1. Người nào trực tiếp quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ  mà thiếu trách nhiệm để người đó trốn gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt  tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội để người bị giam, giữ về một tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trốn hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ  nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn là hành vi không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nhiệm vụ được giao của người trực tiếp quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ để người đó trốn gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn là tội phạm đã được quy định tại Điều 237 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

So với Điều 237 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 301 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Điều 237 Bộ luật hình sự năm 1985 cấu tạo hai khoản, còn Điều 301 Bộ luật hình sự năm 1999 cấu tạo thành 4 khoản trong đó khoản 4 là hình phạt bổ sung, bổ sung khoản 3 với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt là“gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”; nếu Điều 237 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định để người bị giam trốn, thì Điều 301 Bộ luật hình sự năm 1999 không chỉ quy định để người bị giam mà cả người bị giữ trốn cũng là hành vi phạm tội; sửa đổi một số tình tiết là yếu tố định khung hình phạt ở khoản 2 của điều luật cho phù hợp với nội dung sửa đổi, bổ sung của Bộ luật hình sự năm 1999.

 

Về hình phạt, do yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này ngoài việc quy định thêm khung hình phạt tăng nặng thì mức hình phạt cao nhất của tội phạm này là mười năm thay vì chỉ có bảy năm như Điều 237 Bộ luật hình sự năm 1985; khung hình phạt ở mỗi khoản cũng sửa đổi theo hướng nặng hơn so với Điều 237 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người trực tiếp quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

 

Phạm vi áp dụng đối với tội phạm này tương đối hẹp, chỉ giới hạn trong lĩnh vực quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ. Họ là những cán bộ, chiến sĩ Công an, Quân đội công tác trong các Trại tạm giam, Nhà tạm giữ, Trại cải tạo. Ngoài ra, tuy không nhiều nhưng vẫn có thể xảy ra, đó là: đối với những người có trách nhiệm dẫn giải người bị bắt giữ theo lệnh bắt khẩn cấp, có lệnh truy nã từ nơi bắt về nơi giam giữ.

 

Tuy nhiên, nếu những người có nhiệm vụ chuyên chở người bị giam, giữ như: lái xe của các Trại giam có nhiệm vụ lái xe chở người bị giam, giữ từ nơi này đến nơi khác mà người bị giam giữ bỏ trốn do hành vi thiếu trách nhiệm của người dẫn giải thì họ không phải là chủ thể của tội phạm này mà tuỳ trường hợp họ có thể là chủ thể của tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng, tội không tố giác tội phạm hoặc tội che giấu tội phạm. Nếu họ được người dẫn giải móc ngoặc để tạo điều kiện thuận lợi cho người bị giam, giữ trốn thì họ vẫn là chủ thể của tội phạm này với vai trò đồng phạm.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn xâm phạm trực tiếp đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng; xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ giam, giữ, dẫn giải người bị giam, giữ; để người bị giam, giữ trốn đã gây ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của hoạt động tố tụng như: phải tạm đình chỉ điều tra, phải hoãn phiên toà. Để người bị giam, giữ trốn không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội. Đối với những người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng như giết người, cướp tài sản, các tội xâm phạm an ninh quốc gia mà trốn thoát thì còn gây tác hại không thể lường hết được.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này không phải là người bị giam, giữ trốn mà là trách nhiệm của người để người bị giam, giữ trốn. Trách nhiệm này được xác lập do chức vụ, quyền hạn mà có. Do không làm hoặc làm không đầy đủ trách nhiệm được giao nên người bị giam, giữ mới trốn được. Khi định tội, tuỳ từng trường hợp mà định tội cho sát thực với hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn. Nếu thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn thì định tội là “thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn”; nếu thiếu trách nhiệm để người bị giữ trốn thì định tội là “thiếu trách nhiệm để người bị giữ trốn” mà không định tội như điều luật quy định là “thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn”.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Cũng như đối với các tội thiếu trách nhiệm khác, người phạm tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn chỉ có hành vi khách quan duy nhất là thiếu trách nhiệm, nhưng biểu hiện của hành vi thiếu trách nhiệm lại không phải giống nhau nó tuỳ thuộc vào nhiệm vụ được giao và tuỳ thuộc vào hoàn cảnh cụ thể lúc xảy việc người bị giam, giữ trốn.

 

Thiếu trách nhiệm là không làm hoặc làm không hết trách nhiệm được giao nên mới để người bị giam, giữ trốn khỏi nơi giam, giữ; nếu làm tròn trách nhiệm được giao thì người bị giam, giữ không thể trốn được. Trường hợp đã làm hết trách nhiệm mà người bị giam, giữ vẫn trốn được thì không phải là thiếu trách nhiệm và không phải là hành vi phạm tội này.

 

Hành vi thiếu trách nhiệm trong công tác trực tiếp quản lý người bị giam, giữ là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã vi phạm các quy định về chế độ liên quan đến việc giam, giữ nên để cho người bị giam, giữ trốn. Ví dụ: Ban giam thị trại tạm giam đã thiếu kiểm tra, đôn đốc, không phân công trực, không giao trách nhiệm cụ thể cho người canh gác, không cho sửa chữa cửa ra vào phòng giam theo đúng tiêu chuẩn… nên để người bị giam, giữ trốn.

 

Chế độ có liên quan đến việc quản lý các Trại giam, các nhà tạm giữ có thể là các quy định của Chính phủ hoặc của Bộ Công an, Bộ quốc phòng về việc giam, giữ.

 

Hành vi thiếu trách nhiệm trong việc canh gác người bị giam, giữ để người bị giam, giữ trốn là không làm hoặc làm không hết trách nhiệm trong khi canh gác để người bị giam giữ trốn. Canh gác người bị giam, giữ có thể là canh gác trong tại giam, trại tạm giam hoặc trại tạm giữ, nhưng cũng có thể canh gác trong lúc người bị kết án tù đang lao động cải tạo ở nơi lao động cải tạo như: bỏ vị trí cánh gác, ngủ gật, không khoá cửa phòng giam v.v…

 

Hành vi thiếu trách nhiệm trong việc dẫn giải người bị giam, giữ để người bị giam, giữ trốn là không làm hoặc làm không hết trách nhiệm trong khi dẫn giải người bị giam, giữ để người bị giam, giữ trốn. Ví dụ: Bùi Xuân P, Phạm Văn T được giao nhiệm vụ dẫn giải Đỗ Xuân Đ là bị cáo từ trụ sở Toà án về Trại tạm giam. Trên đường dẫn giải, Đỗ Xuân Đ mời P và T vào nhà hàng uống bia. Trong lúc đang ăn uống, Đ xin ghé qua nhà để lấy đồ dùng cá nhân và sau một tiếng sẽ quay lại nhà hàng. P và T đồng ý để Đ về qua nhà. Lợi dụng sơ hở này của P và T nên Đ đã bỏ trốn.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn nhưng chưa gây ra hậu quả nghiêm trọng thì chưa cấu thành tội phạm.

 

Hậu quả nghiêm trọng do hành vi hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây ra là những thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội. Những thiệt hại do để người bị giam, giữ trốn chủ yếu là những thiệt hại phi vật chất như: người bị giam, giữ trốn sẽ gây bế tắc cho việc tiến hành điều tra, truy tố hoặc xét xử, phải tạm đình chỉ để truy nã người phạm tội bỏ trốn; người phạm tội trốn khỏi nơi giam tiếp tục phạm tội khác; người phạm tội trốn khỏi nơi giam trả thù người tố cáo.v.v…Việc xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể; có thể người bị giam, giữ trốn chỉ là người phạm tội ít nghiêm trọng nhưng hậu quả gây ra lại nghiêm trọng hơn người phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng trốn khỏi nới giam, giữ; có trường hợp chỉ cần để người phạm tội bỏ trốn đã là hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng rồi như: người bị kết án tử hình bỏ trốn; người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia bỏ trốn; người phạm tội giết người cướp tài sản bỏ trốn… nhưng cũng có trường hợp phải căn cứ vào thiệt hại do người phạm tội bỏ trốn gây ra mới có thể xác định được hậu quả nghiêm trọng do hành vi của người thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây ra. Như vậy, hậu quả nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn không chỉ phụ thuộc vào những thiệt hại gây ra cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án hình sự mà còn phụ thuộc vào tội phạm mà người bị giam, giữ trốn thực hiện và những thiệt hại do người bị giam, giữ gây ra sau khi đã bỏ trốn.

 

Khi xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn cần chú ý:

 

Nếu là thiệt hại gây ra cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, do hành vi thiếu trách nhiệm để người phạm tội ít nghiêm trọng bị giam, giữ trốn mà dẫn đến việc phải tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ xét xử hoặc người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù bỏ trốn không bắt được ngay mà phải ra lệnh truy nã, thì coi là gây hậu quả nghiêm trọng. Nếu người bị giam, giữ trốn và ngay sau đó bị bắt lại, không ảnh hưởng đến hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án phạt tù thì không coi là hậu quả nghiêm trọng để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người thiếu trách nhiệm để người bị giam trốn.

 

Nếu là thiệt hại do người bị giam, giữ trốn gây ra cho xã hội  sau khi đã bỏ trốn mà thiệt hại đó là thiệt hại về vật chất thì có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây ra. Ví dụ: Bùi Quốc V phạm tội cố ý gây thương tích thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 104 Bộ luật hình sự và bị tạm giữ. Do thiếu trách nhiệm của cán bộ canh gác, nên V đã bỏ trốn. Sau khi bỏ trốn, Bùi Quốc V lại phạm tội trộm cắp với giá trị tài sản là trên 50 triệu đồng và bị bắt lại. Cơ quan điều tra chưa ra quyết định tạm đình chỉ điều tra về hành vi cố ý gây thương tích của V (chưa ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động điều tra), nhưng vì sau khi bỏ trốn V lại phạm tội mới và gây thiệt hại trên 50 triệu đồng, nên hành vi thiếu trách nhiệm để Bùi Quốc V bỏ trốn phải coi là đã gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Nếu là thiệt hại do người bị giam, giữ trốn gây ra cho xã hội sau khi đã bỏ trốn mà thiệt hại đó không phải là thiệt hại về vật chất thì căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây ra. Ví dụ: Vũ Đức T phạm tội đánh bạc thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật hình sự và bị tạm giam; Do thiếu trách nhiệm của người dẫn giải nên T đã bỏ trốn. Trên đường chạy trốn thì bị lực lượng dẫn giải phát hiện truy bắt, T đã bắt cóc một bé gái 5 tuổi rồi khống chế lực lượng truy bắt nếu không để cho T trốn thoát thì sẽ giết cháu bé. Đế bảo toàn tính mạng cho cháu bé nên những người truy bắt T đã yêu cầu lực lượng hỗ trợ, giải thoát được cháu bé và bắt được T. Trường hợp này, tuy người bỏ trốn không gây ra thiệt hại về vật chất những đã gây ra thiệt hại nghiêm trọng cho xã hội, nên hành vi trách nhiệm để người bị giam trốn phải coi là đã gây hậu quả nghiêm trọng.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn, ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật cũng không quy định dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, khi xác định hành vi phạm tội thiếu trách nhiệm để người bị giam giữ trốn cần phải cân nhắc các yếu tố khách quan như hoàn cảnh, điều kiện, cơ sở vật chất của nhà giam, nhà tạm giữ; phương tiện dẫn giải… có ảnh hưởng đến việc thực hiện nhiệm vụ của người trực tiếp quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ để xác định trách nhiệm của người phạm tội.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn thực hiện hành vi phạm tội của mình là do vô ý, tức là người phạm tội tuy thấy trước hành vi của mình có thể dẫn đến người bị giam, giữ trốn, nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xẩy ra hoặc có thể ngăn ngừa được (vô ý vì quá tự tin) hoặc người phạm tội không thấy trước hành vi của mình có thể dẫn đến người bị giam, giữ trốn, mặc dù phải thấy trước và có thể thấy trước hậu quả đó (vô ý do cẩu thả)7.

 

Đây là trường hợp duy nhất trong Chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp mà người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội của mình là do vô ý. Trước đây (trước khi có Bộ luật hình sự), hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn chưa được quy định thành tội phạm riêng, thì hành vi này nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng”, và tất cả các tội do “thiếu trách nhiệm…” người phạm tội thực hiện tội phạm đều do vô ý.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 301 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 301 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội thiếu trách nhiệm để người bị giam giữ trốn có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến hai năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 301 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc được áp dụng dưới sáu tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể được hưởng án treo.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 301 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là: để người bị giam, giữ về một tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trốn hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

a. Để người bị giam, giữ về một tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trốn.

 

Theo quy định của Bộ luật hình sự thì tội phạm được chia thành 4 loại: tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng.

 

Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù;

 

Tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù;

 

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;

 

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

 

Thực tiễn cho thấy, khi Cơ quan điều tra hoặc Viện kiểm sát khởi tố hoặc truy tố đối với người phạm tội về một tội phạm cụ thể nào đó quy định tại Bộ luật hình sự không có nghĩa là người đó đã bị Toà án kết án về tội phạm do Viện kiểm sát truy tố, mà có nhiều trường hợp Toà án kết án người phạm tội về tội phạm khác nặng hơn hoặc nhẹ hơn tội phạm mà Viện kiểm sát đã truy tố; nếu Toà án kết án đúng tội danh mà Viện kiểm sát truy tố thì điều khoản áp dụng cũng có thể khác với điều khoản của Bộ luật hình sự mà Viện kiểm sát đã truy tố. Vì vậy, căn cứ để xác định người bị giam về một tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trốn là căn cứ vào quyết khởi tố của Cơ quan điều tra, quyết định truy tố (bản cáo trạng) của Viện kiểm sát hoặc bản án của Toà án, và tuỳ từng giai đoạn cụ thể mà người bị giam trốn, để xác định người bị giam về một tội nghiêm trọng, rất nghiêm trọng, đặc biệt nghiêm trọng trốn. Ví dụ: Nguyễn Văn Q bị khởi tố tạm giam về tội giết người theo khoản 2 Điều 93 Bộ luật hình sự, trong giai đoạn điều tra, lợi dụng sự thiếu trách nhiệm của Vũ Quốc Tr, cán bộ canh gác nên Q đã bỏ trốn thì Vũ Quốc Tr thiếu trách nhiệm để người bị giam về tội rất nghiêm trọng trốn.

 

Tuy nhiên, đối với người bị tạm giữ thì việc xác định họ bị tạm giữ về tội phạm nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng hay không là rất khó và cũng chưa có căn cứ pháp luật để áp dụng, vì họ chưa bị khởi tố bị can nên cũng chưa thể xác định họ bị khởi tố về tội phạm gì theo quy định tại điều luật nào của Bộ luật hình sự. Do đó, quy định tại điểm a khoản 2 của điều luật này chỉ có ý nghĩa đối với người bị tạm giam, chứ không thể có trường hợp đối với người bị tạm giữ. 

 

b. Gây hậu quả rất nghiêm trọng

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây hậu quả nghiêm trọng nhưng  tính chất và mức độ nghiêm trọng cao hơn trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng.

 

Khi xác định hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn cần chú ý:

 

Nếu là thiệt hại gây ra cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, do hành vi thiếu trách nhiệm để người phạm tội ít nghiêm trọng bị giam, giữ trốn mà dẫn đến việc phải tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ xét xử hoặc người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù bỏ trốn không bắt được ngay mà phải ra lệnh truy nã, và người bỏ trốn pham tội mới gây thiệt hại nghiêm trọng đến vật chất cho người khác thì coi là gây hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây ra. Thiệt hại nghiêm trọng về vật chất có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự.

 

Nếu là thiệt hại do người bị giam, giữ trốn gây ra cho xã hội sau khi đã bỏ trốn mà thiệt hại đó là thiệt hại về vật chất thì có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây ra. Ví dụ: Nguyễn Văn D phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự và bị tạm giam. Do thiếu trách nhiệm của cán bộ canh gác, nên D đã bỏ trốn. Sau khi bỏ trốn, Nguyễn Văn D lại phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản  với giá trị tài sản là trên 500 triệu đồng thì hành vi thiếu trách nhiệm để Nguyễn Văn D bỏ trốn phải coi là đã gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

Nếu là thiệt hại do người bị giam, giữ trốn gây ra cho xã hội sau khi đã bỏ trốn mà thiệt hại đó không phải là thiệt hại về vật chất thì căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây ra như: Sau khi bỏ trốn người bị giam, giữ đã phạm tội rất nghiêm trọng hoặc phạm tội nhiều lần nhưng vẫn không bị bắt lại, gây hoang mang cho xã hộị v.v…

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 301 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù hoặc được chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Nếu thuộc cả hai trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật, để người bị giam, giữ  về tội phạm đặc biệt nghiêm trọng trốn và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 301 Bộ luật hình sự

 

Khoản 3 Điều 301 Bộ luật hình sự quy định một tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây hậu quả rất nghiêm trọng nhưng  tính chất và mức độ nghiêm trọng cao hơn trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

Khi xác định hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn cần chú ý:

 

Nếu là thiệt hại gây ra cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, do hành vi thiếu trách nhiệm để người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng bị giam, giữ hoặc người bị kết án tử hình trốn mà dẫn đến việc phải tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ xét xử và người bỏ trốn lại pham tội mới gây thiệt hại vật chất rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho người khác thì phải coi là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây ra. Thiệt hại về vật chất rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự.

 

Nếu là thiệt hại do người bị giam, giữ trốn gây ra cho xã hội sau khi đã bỏ trốn mà thiệt hại đó là thiệt hại về vật chất thì có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu qủa đặc biệt nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây ra. Ví dụ: Ngô Xuân P phạm tội giết người thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 93 Bộ luật hình sự và bị tạm giam. Do thiếu trách nhiệm của cán bộ canh gác, nên P đã bỏ trốn. Sau khi bỏ trốn, Ngô Xuân P lại tiếp tục thực hiện tội giết người cướp tài sản gây chết một người và chiếm đoạt tài sản gía trị trên 500 triệu đồng phải coi là gây hậu quả đặc biêt nghiêm trọng.

 

Nếu là thiệt hại do người bị giam, giữ trốn gây ra cho xã hội sau khi đã bỏ trốn mà thiệt hại đó không phải là thiệt hại về vật chất thì căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây ra như: Sau khi bỏ trốn người bị giam, giữ đã phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia, tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc liên tục phạm tội rất nghiêm trọng gây hoang mang cho xã hội…

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 301 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù năm năm đến mười năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới năm năm tù nhưng không được dưới hai năm tù; nếu có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười năm tù.

 

4. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm. Việc áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ đối với người phạm tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn chủ yếu đối với có chức vụ, quyền hạn trực tiếp liên quan đến việc giam, giữ, dẫn giải người bị giam, giữ. Do đó, khi áp dụng hình phạt này Toà án cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để có áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ hay không và nếu cấm thì cấm chức vụ cụ thể gì. Ví dụ: Đối với Ban giám thị Trại tạm giam mà thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn thì có thể cấm giữ các chức vụ có liên quan đến việc giam, giữ người phạm tội, mà không thể cấm giữ các chức vụ khác không liên quan đến việc giam, giữ người phạm tội. 

 

10. TỘI THA TRÁI PHÁP LUẬT NGƯỜI ĐANG BỊ  GIAM, GIỮ

 

Điều 302.  Tội tha trái pháp luật người đang bị  giam, giữ 

 

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ về tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ  nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền tha người đang bị giam, giữ không đúng với quy định của pháp luật.

 

Tội tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ là tội phạm đã được quy định tại Điều 238 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

So với Điều 238 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 302 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Điều 238 Bộ luật hình sự năm 1985 cấu tạo hai khoản, còn Điều 302 Bộ luật hình sự năm 1999 cấu tạo thành 4 khoản trong đó khoản 4 là hình phạt bổ sung, bổ sung khoản 3 với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt“gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng”; nếu Điều 238 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định tha trái pháp luật người bị giam, thì Điều 302 Bộ luật hình sự năm 1999 không chỉ quy định tha trái pháp luật người bị giam mà cả đối với hành vi tha trái pháp luật cả người bị giữ cũng là hành vi phạm tội; sửa đổi, bổ sung điều văn của điều luật về hành vi của người phạm tội, nhưng chủ yếu là về học thuật; sửa đổi một số tình tiết là yếu tố định khung hình phạt ở khoản 2 của điều luật cho phù hợp với nội dung sửa đổi, bổ sung của Bộ luật hình sự năm 1999.

 

Về hình phạt, do yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này ngoài việc quy định thêm khung hình phạt tăng nặng thì mức hình phạt cao nhất của tội phạm này là mười năm tù thay vì chỉ có bảy năm tù như Điều 238 Bộ luật hình sự năm 1985; khung hình phạt ở mỗi khoản cũng sửa đổi theo hướng nặng hơn so với Điều 238 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tiến hành tố tụng hình sự; những người có trách nhiệm trong việc quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

 

So với tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn thì chủ thể của tội phạm này có phạm vi rộng hơn. Không chỉ giới hạn trong lĩnh vực quản lý, canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ, mà còn đối với cả những người có thẩm quyền trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử như: Thủ trưởng, Phó thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát; Kiểm sát viên; Chánh án, Phó chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân.

 

Chủ thể của tội phạm này có thể chia làm hai loại: những người có thẩm quyền tha người bị giam, giữ (lợi dụng chức vụ, quyền hạn) và những người không có thẩm quyền tha người bị giam, giữ nhưng vẫn tha (lạm quyền).

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 80 Bộ luật tố tụng hình sự thì chỉ có Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp;Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử mới có quyền ra lệnh bắt bị can, bị cáo để tạm giam; Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp. Trong trường hợp này, lệnh bắt phải được Viện kiểm sát cùng cấp phê chuẩn trước khi thi hành. Và theo khoản 2 Điều 81 Bộ luật tố tụng hình sự thì chỉ có Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng mới có quyền bắt người để tạm giữ. Những người có quyền ra lệnh bắt người giam, giữ thì mới có quyền tha người bị giam, giữ; nếu người tuy có chức vụ, quyền hạn nhưng không có quyền ra lệnh bắt người giam, giữ mà lại ra lệnh tha người bị giam giữ là lạm quyền. Đối với những người khác có trách nhiệm trực tiếp trong việc canh gác, dẫn giải mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn tha người bị giam, giữ thì cũng là chủ thể của tội phạm này.

 

Những người có thẩm quyền tha người bị giam, giữ nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra quyết định trái pháp luật trả tự do cho người bị giam giữ  bao gồm: Phó trưởng Công an cấp huyện, Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp tỉnh trở lên; Viện trưởng, Phó viện trưởng Viện kiểm sát các cấp; Chánh án, Phó Chánh Toà án các cấp. Chánh toà, Phó chánh toà các Toà phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao.

 

Những người không có thẩm quyền nhưng đã lạm quyền tha người bị giam, giữ trái pháp luật bao gồm: Giám thị, Phó giám thị Trại tạm giam, Trại giam (Trại cải tạo người bị kết án tù); Trưởng hoặc phó trường nhà tạm giữ; các cán bộ làm nhiệm vụ canh gác, dẫn giải người bị giam, giữ; cán bộ y tế trong các Trại Tạm giam, nhà tạm giữ; Kiểm sát viên, Thẩm phán…

 

Đói với những người có nhiệm vụ tham gia giải quyết vụ án hình sự như: Điều tra viên, Kiểm sát viên, cán bộ Kiểm sát viên, Thẩm tra viên Toà án nghiên cứu, thẩm tra vụ án mà báo cáo không trung thực hoặc có hành vi sửa chữa tài liệu và đề xuất với người có thẩm quyền tha người trái pháp luật thì không phải là chủ thể của tội phạm này, mà tuỳ trường hợp họ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm sai lệch hồ sơ vụ án hoặc bị xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật.

 

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội tha trái pháp luật người đang bị giam, giữ cũng là tội xâm phạm trực tiếp đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng; ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả của hoạt động tố tụng như: phải tạm đình chỉ điều tra, phải hoãn phiên toà; xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về chế độ giam, giữ dẫn giải người bị giam, giữ. Tha trái pháp luật người bị giam, giữ không chỉ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng mà còn xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này lại chính là người bị giam, giữ. Thông qua việc tha trái pháp luật những người này mà người phạm tội xâm phạm đến khách thể cần được bảo vệ.

 

Người bị giam là người đang bị tạm giam trong các trại tạm giam của Bộ Công an và Bộ quốc phòng; người đang chấp hành hình phạt tù trong các tại giam; người bị kết án tử hình nhưng chưa bị thi hành trong các trại tạm giam.

 

Người bị giữ là người đang bị tạm giữ trong các nhà tạm giữ, người bị bắt quả tang, bị bắt do có lệnh truy nã kể từ khi bị bắt cho đến khi đưa về nhà tạm giữ; trại tạm giam hoặc tại giam.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Có thể nói người phạm tội tha trái pháp luật người bị giam, giữ thực hiện hai hành vi khách quan, đó là: hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn và hành vi Lạm quyền.

 

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn tha trái pháp luật người bị giam, giữ là lợi dụng việc pháp luật quy định cho mình có thẩm quyền tha người bị giam, giữ để ra quyết định tha người bị giam, giữ trái với quy định của pháp luật về việc tha người bị giam, giữ.

 

Theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng mà người tiến hành tố tụng có quyền bắt và tha người bị giam, bị giữ. Vì vậy, khi xác định người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn tha trái pháp luật người bị giam, bị giữ phải căn cứ vào từng giai đoạn tố tụng để xác định người đó có lợi dụng chức vụ, quyền hạn hay là lạm quyền. Ví dụ: Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử sơ thẩm thì chỉ có Chánh án, Phó chánh án Toà án mới có quyền tha bị cáo bị tạm giam; nếu trong giai đoạn này mà Ban giám trị trại tạm giam hoặc Viện trưởng, Phó Viện trưởng ra lệnh tha bị cáo đang bị tạm giam là lạm quyền, chứ không phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn tha trái pháp luật người bị giam.

 

Lạm quyền tha trái pháp luật người bị giam, giữ là không có thẩm quyền tha người bị giam, bị giữ những vẫn ra quyết định tha người bị giam, bị giữ (quyết định bằng văn bản hoặc bằng miệng). Việc người không có thẩm quyền mà lại tha người bị giam, bị giữ tuy là hành vi lạm quyền nhưng họ vẫn là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến việc giam, giữ người; nếu không có chức vụ, quyền hạn thì họ không thể tha trái pháp luật người bị giam, giữ được. Ví dụ: Hoàng Công K và Nguyễn Xuân A là cảnh sát dẫn giải được giao nhiệm vụ dẫn giải Bùi Thị D từ Trại tạm giam đến Toà án nhân dân huyện M để Toà án xét xử D về tội chứa mại dâm. Trên đường đi Bùi Thị D gợi ý với K và A nếu tha D thì D sẽ đưa cho K và A 30 tiệu đồng. K và A đồng ý và thả D, sau đó về báo cáo với lãnh đạo là trên đường dẫn giải Bùi Thị D lợi dụng lúc xin đi vệ sinh đã bỏ trốn. Sau khi bị bắt lại theo lệnh truy nã, Bùi Thị D đã khai hành vi đưa hối lộ để được tha. Hành vi của K và A là hành vi phạm tội “tha trái pháp luật người bị giam” và tội “nhận hối lộ”

 

Biểu hiện của hành vi hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền để tha trái pháp luật người bị giam, giữ là: quyết định trả tự do trái pháp luật người đang bị giam, giữ như: huỷ bỏ việc tạm giam, tạm giữ; thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác khi việc tạm giam vẫn còn cần thiết và chưa hết thời hạn tạm giam; trả tự do cho người bị phạt tù giam đang chấp hành hình phạt tù trong các Trại giam; thả người bị tạm giam, giữ hoặc đang chấp hành hình phạt tù trên đường dẫn giải; đang lao động cải tạo ở nơi lao động, sản xuất.v.v… 

 

Thực tiễn tiến hành tố tụng cũng như trong quá trình thi hành án phạt tù, những người tiến hành tố tụng có những quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ không đúng với quy định của pháp luật như: quyết định thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp ngăn chặn khác; tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù không đúng với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, các quyết định này nếu không do lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà là do nhận thức, do trình độ nghiệp vụ thì không coi là tha người bị giam, giữ trái pháp luật, mà tuỳ trường hợp mà người ra quyết định đó có thể bị xử lý hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội thiếu trách nhiệm gây hậu quả nghiêm trọng.  

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, bởi vì việc người bị giam, giữ được tha trái phép đã là hậu quả nghiêm trọng rồi. Nếu hành vi tha trái pháp luật người bị giam, giữ gây ra hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc hoặc khoản 3 của điều luật.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội tha trái pháp luật người bị giam, giữ, ngoài hành vi khách quan nhà làm luật không quy định dấu hiệu khách quan khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, khi xác định hành vi phạm tội tha trái pháp luật người bị giam, giữ cũng cần phải nghiên cứu các quy định của pháp luật mà đặc biệt là các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự về việc giam, giữ; về việc thay đổi biện pháp ngăn chặn, việc tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù; các quy định về dẫn giải người bị giam, giữ, quản lý người đang chấp hành hình phạt tù trong các tại giam. Chỉ có trên cơ sở hiểu rõ các quy định trên mới có thể xác định một cách chính xác hành vi của người có chức vụ, quyền hạn có lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình hoặc lạm quyền để tha người bị giam, giữ hay không.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội tha trái pháp luật người bị giam, giữ thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền và việc tha người bị giam, giữ như vậy là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra.

 

Động cơ tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng nói chung động cơ của người phạm tội là động cơ cá nhân hoặc tư lợi. Nếu người phạm tội vì đã nhận hối lộ mà tha người giam, giữ trái pháp luật thì còn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 302 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 302 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 302 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc được áp dụng dưới sau tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể được hưởng án treo.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 302 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là: tha trái pháp luật người đang bị giam về tội rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây hậu quả rất nghiêm trọng.

 

a. Tha trái pháp luật người đang bị giam về rất nghiêm trọng hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp phạm tội quy định tại khoản 2 Điều 301 Bộ luật hình sự chỉ khác ở chỗ: Điều 301 Bộ luật hình sự quy định để người phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng trốn, còn Điều 302 Bộ luật hình sự thì quy định tha trái pháp luật đối với những người này. Việc xác định một người đang bị giam, giữ về tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cũng tương tự như trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 301 Bộ luật hình sự, tức là phải căn cứ vào khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự.

 

Tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù;

 

Tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

 

Mặc dù tội tha trái pháp luật người bị giam, giữ xét về tính chất của hành vi thì chúng ta thấy nghiêm trọng hơn đối với tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn nhưng nhà làm luật quy định mức hình phạt trong các khung hình phạt cũng ngang bằng với mức hình phạt quy định tại các khung hình phạt đối với tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn, thậm chí còn nhẹ hơn tội thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn. Ví dụ: khoản 2 Điều 301 Bộ luật hình sự quy định phạm tội để người bị giam, giữ trốn về tội phạm nghiêm trọng là người phạm tội đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật với khung hình phạt từ hai năm đến bảy năm. Trong khi đó, người phạm tội tha trái pháp luật người bị gam, giữ về tội nghiêm trọng thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 Điều 302 Bộ luật hình sự có khung hình phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm. Việc quy định này theo chúng tôi là không phù hợp. Hy vọng rằng khi có chủ trương sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự nhà làm luật sẽ quan tâm đến vấn đề này.

 

b. Gây hậu quả rất nghiêm trọng

 

Nhà làm luật không quy định trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu định tội hay dấu hiệu định khung hình phạt nhưng lại quy định phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng. Đây là trường hợp hiếm thấy trong các điều luật khác của Bộ luật hình sự. Thông thường, khi nhà làm luật quy định hậu quả nghiêm trọng là yếu tố định tội thì mới quy định gây hậu quả rất nghiêm trọng là yếu tố định khung hình phạt hoặc đã quy định gây hậu quả nghiêm trọng là yếu tố định khung hình phạt trong ở điều khoản của Bộ luật hình sự (khung hình phạt nhẹ hơn) thì mới quy định tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng là yếu tố định khung hình phạt ở khung hình phạt nặng hơn. Nếu căn cứ vào cấu tạo của Điều 302 Bộ luật hình sự thì có thể hiểu rằng, bản thân hành vi tha trái pháp luật  người bị giam, giữ là đã gây hậu quả nghiêm trọng rồi, và nếu như vậy, thì như trên chúng tôi đã phân tích mức hình phạt trong các khung hình phạt đối với tội phạm này chưa phù hợp.

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây hậu quả rất nghiêm trọng quy định tại khoản 2 Điều 301 Bộ luật hình sự, do đó khi xác định hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi tha trái pháp luật người bị gam, giữ cần chú ý:

 

Nếu là thiệt hại gây ra cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, do hành vi tha trái pháp luật người bị gam, giữ  về tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng mà dẫn đến việc phải tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ xét xử hoặc người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù và sau khi được tha người bị giam giữ pham tội mới gây thiệt hại nghiêm trọng đến vật chất cho người khác thì coi là gây hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi tha trái pháp luật người bị gam, giữ  gây ra.

 

Nếu thiệt hại do tha trái pháp luật người bị giam, giữ là thiệt hại về vật chất thì có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi tha trái pháp luật người bị gam, giữ gây ra.

 

Nếu là thiệt hại do tha trái pháp luật người bị gam, giữ gây ra cho xã hội mà thiệt hại đó không phải là thiệt hại về vật chất thì căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi tha trái pháp luật người bị gam, giữ gây ra như: người bị giam, giữ được tha trái pháp luật lại phạm tội mới là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc phạm tội nhiều lần, gây hoang mang cho xã hội v.v…

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 302 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật, và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù hoặc được chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Nếu thuộc cả hai trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 302 Bộ luật hình sự

 

Khoản 3 Điều 302 Bộ luật hình sự quy định một tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp thiếu trách nhiệm để người bị giam, giữ trốn gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng nhưng, do đó khi xác định hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi tha trái pháp luật người bị gam, giữ cần chú ý:

 

Nếu là thiệt hại gây ra cho hoạt động điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, do hành vi tha trái pháp luật người bị gam, giữ về tội phạm rất nghiêm trọng hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng mà dẫn đến việc phải tạm đình chỉ điều tra, tạm đình chỉ xét xử hoặc người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù và sau khi được tha người bị giam giữ pham tội mới gây thiệt hại rất nghiêm trọng đến vật chất cho người khác, thì phải coi là gây hậu quả đặc nghiêm trọng do hành vi tha trái pháp luật người bị gam, giữ  gây ra.

 

Nếu thiệt hại do tha trái pháp luật người bị giam, giữ mà thiệt hại đó là thiệt hại về vật chất thì có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi tha trái pháp luật người bị gam, giữ gây ra.

 

Nếu là thiệt hại do tha trái pháp luật người bị gam, giữ gây ra cho xã hội mà thiệt hại đó không phải là thiệt hại về vật chất thì căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để xác định hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi tha trái pháp luật người bị gam, giữ gây ra như: tha trái pháp luật nhiều người; người bị giam, giữ được tha trái pháp luật lại phạm tội mới là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc phạm tội nhiều lần, gây hoang mang cho xã hội hoặc người được tha trái pháp luật là người bị kết án chung thân hoặc tử hình.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 302 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù năm năm đến mười năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới năm năm tù nhưng không được dưới hai năm tù; nếu có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười năm tù.

 

4. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Cũng như đối với các tội phạm khác, việc áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ đối với người phạm tội tha trái pháp luật người bị giam, giữ phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để có áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ hay không và nếu cấm thì cấm chức vụ cụ thể gì. Nói chung chỉ cấm các chức vụ mà người phạm tội đã lợi dụng để tha người giam giữ trái pháp luật, còn các chức vụ khác không liên quan đến việc tha trái pháp luật người bị giam, giữ thì không nên cấm.

 

 

11. TỘI LỢI DỤNG CHỨC VỤ, QUYỀN HẠN GIAM, GIỮ NGƯỜI TRÁI PHÁP LUẬT

 

Điều 303.  Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người  trái pháp luật 

 

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp  luật, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười năm.

4. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật là không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật.

 

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật là tội phạm đã được quy định tại Điều 239 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

So với Điều 239 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 303 Bộ luật hình sự năm 1999 về tội phạm này, có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Điều 239 Bộ luật hình sự năm 1985 cấu tạo hai khoản, còn Điều 303 Bộ luật hình sự năm 1999 cấu tạo thành 4 khoản, trong đó khoản 4 là hình phạt bổ sung, bổ sung khoản 3 với tình tiết là yếu tố định khung hình phạt“gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”; nếu Điều 239 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy lạm dụng chức vụ, quyền hạn thì Điều 303 quy định lợi dụng chức vụ, quyền hạn; nếu Điều 239 chỉ quy định đối tượng tác động là người bị giam thì Điều 303 quy định cả đối với người bị giữ; nếu Điều 239 quy định: “không ra lệnh tha hoặc không chấp hành lệnh tha người hết hạn giam”, thì Điều 303 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật”.

 

Về hình phạt, do yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống loại tội phạm này ngoài việc quy định thêm khung hình phạt tăng nặng thì mức hình phạt cao nhất của tội phạm này là mười năm tù thay vì chỉ có bảy năm tù như Điều 239 Bộ luật hình sự năm 1985; khung hình phạt ở mỗi khoản cũng sửa đổi theo hướng nặng hơn so với Điều 239 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có chức vụ, quyền hạn có nghĩa vụ trong việc trả tự do cho người bị giam, bị giữ mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

 

Những người có chức vụ, quyền hạn có nghĩa vụ trong việc trả tự do cho người bị giam, bị giữ người là những người mà theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự họ phải có nghĩa vụ tha người bị giam, bị giữ, gồm hai loại: những người có nghĩa vụ ra quyết định và những người có nghĩa vụ chấp hành quyết định.

 

Những người có nghĩa vụ ra quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ là những người theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự họ phải có nghĩa vụ ra quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ bao gồm: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra các cấp; người chỉ huy đơn vị quân đội độc lập cấp trung đoàn và tương đương; người chỉ huy đồn biên phòng ở hải đảo và biên giới; người chỉ huy tàu bay, tàu biển, khi tàu bay, tàu biển đã rời khỏi sân bay, bến cảng; Chỉ huy trưởng vùng Cảnh sát biển (đối với người bị tạm giữ). Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân và Viện kiểm sát quân sự các cấp; Chánh án, Phó Chánh án Toà án nhân dân và Toà án quân sự các cấp; Thẩm phán giữ chức vụ Chánh toà, Phó Chánh toà Tòa phúc thẩm Toà án nhân dân tối cao; Hội đồng xét xử (đối với người bị giam).

Những người có nghĩa vụ chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam giữ bao gồm: Ban giám thị các nhà tạm giữ, trại tạm giam và trại giam (trại cải tạo những người chấp hành hình phạt tù); cán bộ, chiến sĩ có nhiệm vụ canh giữ, dẫn giải người bị giam giữ (trong một số trường hợp).

Đối với những người lợi dụng chức vụ, quyền hạn ra lệnh bắt giam, giữ người trái pháp luật thì không phải là chủ thể của tội phạm này mà tuỳ trường hợp họ sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật quy định tại điểm b Điều 123 Bộ luật hình sự.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật cũng là tội xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng nó xâm phạm trực tiếp đến quyền nhân thân (quyền bất khả xâm phạm) của người bị giam, giữ. Lẽ ra họ được trả tự do thì lại vẫn bị giam, bị giữ.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này lại chính là người bị giam, bị giữ. Thông qua việc giam, giữ những người này trái pháp luật mà người phạm tội xâm phạm đến khách thể cần được bảo vệ.

 

Người bị giam là người đang bị tạm giam trong các trại tạm giam của Bộ Công an và Bộ quốc phòng; người đang chấp hành hình phạt tù trong các trại giam; người bị kết án tử hình nhưng chưa bị thi hành trong các trại tạm giam.

 

Người bị giữ là người đang bị tạm giữ trong các nhà tạm giữ, người bị bắt quả tang, bị bắt do có lệnh truy nã kể từ khi bị bắt cho đến khi đưa về nhà tạm giữ; trại tạm giam hoặc tại giam.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Có thể nói người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật không thực hiện bất kỳ hành vi cụ thể nào. Trường hợp phạm tội này, khoa học pháp lý gọi là không hành động.

 

Không hành động là không làm một việc mà có nghĩa vụ phải làm và có thể làm được. Người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật là không ra quyết định trả tự do người bị giam, giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ.

 

Đối với hành vi không ra quyết định trả tự do người bị giam, giữ mà lẽ ra theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự họ phải ra quyết định như: hết hạn tạm giữ hoặc quyết định tạm giữ không được Viện kiểm sát phê chuẩn nhưng vẫn không ra quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ; hết hạn tạm giam bị can, bị cáo nhưng người có trách nhiệm đã không ra quyết định để trả tự do cho người bị tạm giam; đã hết hạn chấp hành hình phạt tù nhưng không ra quyết định trả tự do cho người bị kết án. v.v… Đối với loại hành vi này người phạm tội phải có trách nhiệm ra một văn bản gọi là quyết định, vì việc bắt hoặc tha một người theo quy của Bộ luật tố tụng hình sự đều phải bằng một quyết định.

 

Đối với hành vi không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ, người phạm tội không có trách nhiệm ra quyết định mà là không thi hành quyết định của người có thẩm quyền đã ký quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ nhưng lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong việc quản lý, canh gác, dẫn giải đã không thực hiện việc trả tự do cho người bị giam, giữ như: đã có quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn từ tạm giam sang biện pháp ngăn chặn khác nhưng người có thẩm quyền trong trại tạm giam vẫn không trả tự do cho bị can, bị cáo; đã có quyết định tạm đình chỉ thi hành bản án của người có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm đối với người đang chấp hành hình phạt tù trong các trại giam nhưng người có thẩm quyền trong các trại tạm giam không trả tự do cho người bị kết án. v.v… Nói chung, trường hợp không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ ít xảy ra, vì khi đã có lệnh trả tự do cho người bị giam, giữ thì người có trách nhiệm trong việc bị giam, giữ không thể không trả tự do cho họ. Tuy nhiên, về lý thuyết vẫn có thể xảy ra. Ví dụ: A Giám thị Trại Tạm giam đã nhận được quyết định trả tự do cho B là người bị tạm giam, nhưng vì trong thời gian bị tam giam, B có lời lẽ xúc phạm A nên khi nhận được quyết định trả tự do cho B, A đã cho vào tủ coi như không có chuyện gì xảy ra. Chờ mãi không thấy B được trả tự do, người nhà của B đến hỏi Viện kiểm sát thì sự việc mới được phát hiện.

 

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật là lợi dụng việc pháp luật quy định cho mình có thẩm quyền trả tự do cho người bị giam, giữ để không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ.

 

Chức vụ, quyền hạn mà Toà án cấp phúc thẩm lợi dụng là chức vụ, quyền hạn có liên quan trực tiếp đến việc trả tự do cho người bị giam, giữ. Nếu một người có chức vụ, quyền hạn nhưng lại không phải là chức vụ, quyền hạn có liên quan trực tiếp đến việc trả tự do cho người bị giam, giữ mà lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để ra lệnh cho người có thẩm quyền không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ thì không phải là hành vi phạm tội này, mà tuỳ trường hợp mà hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ.

 

Việc xác định người có thẩm quyền trả tự do cho người bị giam, giữ có lợi dụng chức vụ, quyền hạn để không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ hay không là một việc không đơn giản, vì nếu có xảy ra trường hợp không ra quyết định trả tự do cho người bị giam giữ hoặc tuy có quyết định trả tự do cho họ nhưng người bị giam, giữ vẫn không được trả tự do thì người có thẩm quyền thường đổ lỗi cho khách quan như: quên, hoặc chưa nhận được quyết định, hoặc do nhận thức về pháp luật chưa đúng, chứ không nhận là đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Do đó, khi xác định người phạm tội có lợi dụng chức vụ, quyền hạn hay không thường phải căn cứ vào động cơ, mục đích phạm tội.

 

Hành vi giam, giữ người trái pháp luật không bao gồm hành vi ra quyết định bắt, giam, giữ người trái pháp luật. Nếu người có thẩm quyền ký quyết định bắt, giam, giữ người trái pháp luật thì tuỳ trường hợp mà hành vi này bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội ra bản án trái pháp luật quy định tại Điều 295 hoặc tội ra quyết định trái pháp luật quy định tại Điều 296 Bộ luật hình sự.

 

Khi xác định hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật cần phải phân biệt với hành vi bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật quy định tại Điều 123 Bộ luật hình sự. Người phạm tội bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật là người thực hiện hành vi bắt, bắt để giữ, bắt để giam. (bắt vào), còn người phạm tội giam, giữ người trái pháp luật là người thực hiện hành vi không trả tự do cho người đang bị giam, giữ.

  

b. Hậu quả

 

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi giam, giữ người trái pháp luật gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc hoặc khoản 3 của điều luật.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội giam, giữ người trái pháp luật, ngoài hành vi khách quan nhà làm luật còn quy định một dấu hiệu khách quan là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành, đó là: việc không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người đang bị giam, giữ mà lẽ ra theo quy định của pháp luật thì họ phải được trả tự do.

 

Theo quy định của pháp luật một người bị giam, giữ được trả tự do là quy định của Bộ luật tố tụng hình sự như: đã hết thời hạn tạm giữ, tạm giam mà xét thấy không cần thiết phải tiếp tục tạm giữ, tạm giam nhưng người có trách nhiệm không ra quyết định trả tự do cho người bị tạm giữ, tạm giữ hoặc đã có quyết định trả tự do cho người bị tạm giam, tạm giữ; có bản án không áp dụng hình phạt tù hoặc tuyên bố bị cáo không phạm tội; hết thời hạn chấp hành hình phạt tù; có quyết định tạm đình chỉ việc chấp hành hình phạt tù.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội giam, giữ người trái pháp luật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lạm quyền và việc không ra quyết định trả tự do hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ như vậy là trái pháp luật, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra.

 

Động cơ tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này, dù người phạm tội với động cơ nào đi nữa thì hành vi không ra quyết định hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người được trả tự do theo quy định của pháp luật đều đã cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, đối với tội phạm này, động cơ của người phạm tội chủ yếu là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác, rất ít trường hợp vì động cơ vì muốn hoàn thành nhiệm vụ.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 303 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 303 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 303 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng dưới sau tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể được hưởng án treo.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 303 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật chỉ quy định một tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là: phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng

 

Hậu quả nghiêm trọng do hành vi không ra quyết định trả tự do hoặc không chấp hành quyết định trả tự do cho người bị giam, giữ là những thiệt hại gây ra trực tiếp cho người bị giam, giữ và những thiệt hại khác cho xã hội.

 

Những thiệt hại trực tiếp đối với người bị giam giữ là thiệt hại đến sức khoẻ, tài sản, tinh thần như: do bị kéo dài thời gian giam, giữ mà sức khoẻ của người bị giam, giữ bị suy kiệt, bệnh tật không được điều trị kịp thời, bị hoang mang lo sợ. Các thiệt hại này có thể tương tự như trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi truy cứu người không có tôi, ra bản án trái pháp luật hoặc quyết định trái pháp luật gây ra. Ngoài ra, có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi giam, giữ người trái pháp luật gây ra.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 303 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ tù hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù. Nếu có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 303 Bộ luật hình sự

 

Khoản 3 Điều 203 Bộ luật hình sự quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi hành vi truy cứu người không có tôi, ra bản án trái pháp luật hoặc quyết định trái pháp luật gây ra. Ngoài ra có thể tham khảo Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25-12-2001 của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tôic cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp hướng dẫn áp dụng một số quy định tại Chương XIV "Các tội xâm phạm sở hữu" của Bộ luật hình sự để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi giam, giữ người trái pháp luật gây ra.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 303 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ năm năm đến mười năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới năm năm tù nhưng không được dưới hai năm tù; nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười năm tù.

 

4. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Cũng như đối với các tội phạm khác, việc áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ đối với người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể như: chức vụ mà họ đang đảm nhiệm, để có áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ cho phù hợp. Nói chung chỉ cấm các chức vụ mà người phạm tội đã lợi dụng để giam, giữ người trái pháp luật, còn các chức vụ khác không liên quan đến việc giam, giữ người trái pháp luật thì không nên cấm.

 

 12. TỘI KHÔNG CHẤP HÀNH ÁN

 

Điều 304.  Tội không chấp hành án 

Người nào cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

 

Định nghĩa: Không chấp hành án là hành vi cố ý không chấp hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết.

 

Tội không chấp hành án là tội phạm đã được quy định tại khoản 1 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1985. Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định tội “không chấp hành án, tội cản trở việc thi hành án” là hai tội độc lập nhưng lại quy định ở hai khoản khác nhau. Xét về kỹ thuật lập pháp, thì nhà làm luật quy định như vậy là không khoa học. Bởi lẽ, trong một điều luật khoản 1 quy định một tội, khoản 2 quy định một tội khác làm cho tưởng nhầm là tội “cản trở việc thi hành án” là tình tiết định khung hình phạt tăng nặng của tội “không chấp hành án, tội cản trở việc thi hành án”. Thấy rõ sự bất hợp lý này, nên Bộ luật hình sự năm 1999 nhà làm luật đã quy định hai tội ở hai điều luật khác nhau.

 

So với Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 304 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội phạm này, về cơ bản không có sửa đổi, bổ sung gì lớn. Trừ việc chuyển khoản 2 của Điều 240 thành tội “cản trở việc thi hành án” là tội phạm độc lập, thì Điều 304 chỉ sửa đổi, bổ sung mức hình phạt cải tạo không giam giữ từ một năm lên ba năm, còn lại vẫn giữ nguyên như khoản 1 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này tuy không phải là chủ thể đặc biệt, nhưng cũng chỉ có những người có nghĩa vụ trong việc chấp hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

 

Những người có nghĩa vụ trong việc chấp hành bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật là những người mà theo quy định của pháp luật họ phải có nghĩa vụ chấp hành như: bị cáo, người bị hại, nguyên đơn dân sự, bị đơn dân sự, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án hình sự; đương sự trong các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình; các vụ án kinh tế, hành chính, lao động.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Theo quy định của pháp luật thì bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật phải được thi hành và phải được các cơ quan, tổ chức và mọi công dân tôn trọng. Cá nhân, cơ quan, tổ chức hữu quan trong phạm vi trách nhiệm của mình phải chấp hành nghiêm chỉnh bản án, quyết định của Toà án và phải chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc chấp hành đó. Trong phạm vi trách nhiệm của mình, các cơ quan nhà nước, chính quyền xã, phường, thị trấn, tổ chức và công dân phải phối hợp với cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong việc thi hành án. Các cơ quan nhà nước, chính quyền xã, phường, thị trấn có trách nhiệm tạo điều kiện và thực hiện yêu cầu của cơ quan, tổ chức có nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án trong việc thi hành án.

 

Như vậy, thi hành bản án hoặc quyết định của Toà án là khâu cuối cùng của quá trình tố tụng. Nếu bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật không được thi hành thì toàn bộ kết quả của quá trình tố tụng không có ý nghĩa gì nữa.

 

Tội không chấp hành bản án cũng là tội xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và của người được thi hành án.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này lại chính là các bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật.

 

Bản án của Toà án là một văn bản tố tụng do Thẩm phán, Hội thẩm nhân danh nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ban hành bao gồm: bản án hình sự, bản án dân sự, bản án hôn nhân và gia đình, bản án kinh tế, bản án lao động và bản án hành chính; các quyết định giám đốc thẩm, tái thẩm của Hội đồng giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Tuy tên văn bản là “quyết định” nhưng toàn bộ nội dung của nó không khác gì bản án.

 

Quyết định của Toà án cũng là một văn bản tố tụng có thể Hội đồng xét xử ban hành nhưng cũng có thể chỉ do một Thẩm phán ban hành như: quyết định hoà giải thành, quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, quyết định kê biên tài sản, quyết định thi hành án phạt tù, quyết định bắt buộc chữa bệnh.v.v… Tuy nhiên, trong những quyết định của Toà án không phải quyết định nào cũng là đối tượng tác động của tội phạm này mà còn có các quyết định khác như: quyết định trả hồ sơ vụ án để điều tra bổ sung, quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định tạm đình chỉ vụ án; quyết định gia hạn thời hạn chuẩn bị xét xử; quyết định thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm, thư ký Toà án…Những quyết định này không phải là  đối tượng tác động của tội phạm này.

 

Bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật bao gồm:

 

- Những bản án và quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị theo trình tự phúc thẩm;

- Những bản án và quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm;

- Những quyết định của Tòa án giám đốc thẩm hoặc tái thẩm.

- Các quyết định tuy chưa có hiệu lực pháp luật nhưng theo quy định của pháp luật thì các quyết định này phải được thi hành ngay.Ví dụ: quyết định cấp dưỡng cho người mà đương sự phải có nghĩa vụ cấp dưỡng.

 

Bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật chỉ là đối tượng tác động của tội phạm này khi bản án hoặc quyết định đó thuộc trách nhiệm của những người tham gia tố tụng phải có nghĩa vụ thi hành, còn bản án hoặc quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật mà trách nhiệm thi hành là của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng thì không phải là đối tượng tác động của tội phạm này. Ví dụ: trường hợp bị cáo đang bị tạm giam mà Tòa án quyết định đình chỉ vụ án, không kết tội, miễn trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt cho bị cáo, hình phạt không phải là tù giam hoặc phạt tù nhưng cho hưởng án treo hoặc khi thời hạn phạt tù bằng hoặc ngắn hơn thời hạn đã tạm giam, nhưng người có thẩm quyền không trả tự do cho người bị giam, giữ thì bản án hoặc quyết định đó của Tòa án lại là đối tượng tác động của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Hành vi khách quan của tội không chấp hành án là người phạm tội thực hiện hành vi thuộc dạng “không hành động”.

 

 Không hành động là không làm một việc mà có nghĩa vụ phải làm và có thể làm được. Người phạm tội không chấp hành án là không thi hành quyết định của bản án và các quyết định khác của Toà án mà họ có nghĩa vụ phải thi hành như: không nộp tiền bồi thường cho Cơ quan thi hành án để bồi thường cho người bị hại theo bản án đã tuyên, không giao nộp tài sản “do phạm tội mà có” mà bản án quyết định tuyên tịch thu sung quỹ Nhà nước; không giao nhà, đất mà theo bản án nhà đất đó phải giao cho người khác; không góp phí tổn nuôi con chung sau khi ly hôn; không chịu cấp dưỡng cho người được cấp dưỡng theo quyết định của bản án.v.v…

 

Tuy nhiên, hành vi không chấp hành bản án có thể kèm theo một số hành vi khác là hành động như: bỏ trốn, tránh mặt lúc lực lượng thi hành lệnh cưỡng chế, khoá cửa không cho lực lượng thi hành án đến thi hành, thậm chí có hành vi chống đối, lăng mạ, hành hung cán bộ thi hành án; tẩu tán tài sản đã bị kê biên. v.v… nhưng tất cả các hành vi này cũng chỉ là những thủ đoạn nhằm mục đích là để không chấp hành bản án hoặc quyết định của Toà án. Những hành vi này có thể có những hành vi cấu thành một tội phạm khác như: tội chống người thi hành công vụ, tội cố ý gây thương tích, tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản. v.v… Nếu những hành vi là thủ đoạn để không chấp hành bản án cấu thành tội phạm độc lập thì tùy trường hợp mà người phạm tội có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án và tội phạm tương ứng do thực hiện thủ đoạn không chấp hành bản án gây ra.

  

b. Hậu quả

 

Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này và cũng không phải là tình tiết là yếu tố định khung hình phạt vì tội phạm này chỉ có một khung hình phạt. Tuy nhà làm luật không quy định hậu quả là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này, nhưng không vì thế mà cho rằng, hành vi không chấp hành  án không gây ra hậu quả. Bản án hoặc quyết định của Toà án không được thi hành theo quy định của pháp luật là đã gây ra hậu quả rồi. Tuy nhiên, có thể sau đó (sau khi truy cứu trách nhiệm hình sự người không chấp hành án), bản án hoặc quyết định của Toà án vẫn được thi hành nhưng hành vi không chấp hành án vẫn cấu thành tội phạm.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội không chấp hành án, ngoài hành vi khách quan nhà làm luật còn quy định một dấu hiệu khách quan nếu thiếu nó thì hành vi không chấp hành án chưa cấu thành tội phạm, đó là: “mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết”.

 

Những biện pháp cưỡng chế cần thiết là để người có nghĩa vụ chấp hành phải chấp hành nhưng vẫn cố tình không chấp hành. Những biện pháp đó thường là các biện pháp cưỡng chế hành chính như: Xử lý hành chính về hành vi không chấp hành án; quyết định kê biên tài sản, niêm phong tài sản, đã khấu trừ tiền lương; phong toả tài khoản, buộc rời khỏi nhà để giao nhà cho người khác nhưng không chịu rời khỏi nhà. v.v…

 

Những biện pháp cưỡng chế phải là những biện pháp đúng pháp luật và được coi là cần thiết mà người phải chấp hành án không chấp hành thì mới coi là tội không chấp hành án. Nếu những biện pháp cưỡng chế là biện pháp không đúng pháp luật hoặc tuy đúng pháp luật nhưng xét thấy không cần thiết mà người bị áp dụng các biện pháp này không chấp hành thì cũng không coi là đã áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết. Ví dụ: Chị Nguyễn Thị H và anh Trần Quốc T được Toà án quyết định thuận tình ly hôn, chị H được nuôi cháu Trần Quốc D con chung của anh T và chị H, anh T phải cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng là 400.000 đồng. Sau khi ly hôn với anh T, chị H đã kết hôn với anh Phạm Văn C. Thi hành quyết định của Toà án, anh T đã cấp dưỡng cho cháu D được 12 tháng thì anh T bị bệnh phải đi nằm viện nên không tiếp tục cấp dưỡng cho cháu D được. Chị H thấy anh T không tiếp tục cấp dưỡng cho cháu D nên làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án buộc anh T phải cấp dưỡng tiếp cho cháu D. Nhận được đơn của chị H, cơ quan thi hành án kiểm tra thấy đúng là anh T đã không tiếp tục cấp dưỡng cho cháu D đã 10 tháng, nên đã áp dụng ngay biện pháp cưỡng chế bằng cách kê biên chiếc xe máy của anh T để bảo đảm việc thi hành khoản cấp dưỡng cho cháu D. Sau khi ra viện, vì phải chi phí cho việc chữa bệnh nên anh T không còn tiền để thi hành việc cấp dưỡng nuôi cháu D, anh T cũng nhận được quyết định kê biên tài sản, nhưng vì anh T làm nghề chạy xe ôm nên mặc dù chiếc xe máy đã bị kê biên nhưng anh T vẫn dùng chiếc xe này để hành nghề nhằm lấy tiền thi hành khoản cấp dưỡng nuôi con, nhưng vì mới chạy xe được 3 ngày thì anh T bị tai nạn, xe bị hư hỏng nặng. Mặc dù hành vi không chấp hành án của anh T đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế, nhưng việc áp dụng biện pháp cưỡng chế này là không cần thiết, mặc dù đúng pháp luật. Anh T không thực hiện tiếp việc cấp dưỡng cho cháu D theo quyết định của Toà án được là vì anh T bị bệnh phải vào bệnh viện điều trị. Mặt khác, cơ quan thi hành án quyết định kê biên tài sản của anh T là phương tiện đi lại và kiếm sống của anh T. Do đó việc kê biên tài sản của cơ quan thi hành án không được coi là biện pháp cưỡng chế cần thiết.

 

Nói chung, sau khi đã áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết, mà người phải thi hành án vẫn cố tình không chấp hành án và việc thi hành án không có kết quả thì người có hành vi không chấp hành án mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Nếu sau khi đã áp dụng biện pháp cưỡng chế, người phải thi hành án vẫn không chịu thi hành nhưng sau đó cơ quan thi hành án đã cưỡng chế thi hành xong, mà người phải thi hành không có hành vi nào cản trở việc thi hành án đó, thì có thể được miễn truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Hiện nay, có tình trạng bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật, nhưng người phải thi hành án không đồng ý với bản án hoặc quyết định của Toà án nên đã làm đơn đề nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm; trong thời gian “chờ trả lời” của có thẩm quyền kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm. Cơ quan thi hành án đã ra quyết định thi hành bản án, nhưng người phải thi hành án lấy lý do “còn đang khiếu nại giám đốc thẩm” nên không đồng ý thi hành án; do nhận thức không đúng về thủ tục giám đốc thẩm nên một số cơ quan thi hành án không tiếp tục có những biện pháp cần thiết để thi hành án. Ngược lại, có trường hợp Cơ quan thi hành án đã có quyết định cưỡng chế thi hành án, nhưng khi tổ chức việc cưỡng chế thì nhận được quyết định hoãn thi hành án của người có thẩm quyền, nên việc cưỡng chế phải dừng lại, nhưng sau đó người có thẩm quyền không ra quyết định kháng nghị làm cho việc thi hành án kéo dài. Đây là một thực trạng không chỉ ảnh hưởng đến công tác thi hành án mà còn ảnh hưởng đến việc xác định trách nhiệm hình sự đối với người không chấp hành án. Về nguyên tắc, mặc dù người phải thi hành đang có đơn khiếu nại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật đến Toà án cấp giám đốc thẩm nhưng khi chưa có quyết định hoãn thi hánh án thì cơ quan thi hành án vẫn phải tổ chức việc thi hành và người có nghĩa vụ thi hành án phải chấp hành. Trường hợp nếu có quyết định hoãn thi hành án của người có thẩm quyền, nhưng sau đó không ra kháng nghị thì hết thời hạn hoãn thi hành án, cơ quan thi hành án phải tiếp tục thi hành án; nếu có kháng nghị của người có thẩm quyền nhưng không có quyết định tạm hoãn thi hành án hoặc tạm đình chỉ việc thi hành án thì cơ quan thi hành án vẫn tiếp tục tỏ chức việc thi hành án.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội không chấp hành án thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, điều này thể hiện ngay trong điều văn của điều luật đó là “đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết mà vẫn không chấp hành”.

 

Động cơ không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này, dù người phạm tội với động cơ nào đi nữa thì hành vi không chấp hành án vẫn cấu thành tội phạm. Đối với tội phạm này, người phạm tội chủ yếu là vì động cơ cá nhân. Tuy nhiên, cũng có trường hợp người cố tình không chấp hành án lại là người đứng đầu của cơ quan, tổ chức vì lợi ích của cơ quan, tổ chức đó. Đối với những người này, việc truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án cũng phải rất thận trọng, vì họ đại diện cho một cơ quan, tổ chức và việc cố tình không chấp hành án của họ lại xuất phát từ động cơ vì lợi ích của tập thể. Thực tiễn xét xử cũng chưa có trường hợp nào truy cứu trách nhiệm hình sự người đứng đầu cơ quan, tổ chức cố tình không chấp hành án, mà chỉ áp dụng các biện pháp cưỡng chế hoặc áp dụng các biện pháp hành chính để buộc họ phải thi hành án. Tuy nhiên, về lý thuyết thì những người đứng đầu hoặc người có trách nhiệm  trong các cơ quan, tổ chức mà cố tình không thi hành mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết thì vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tôi không chấp hành án.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

Đối với tội phạm này nhà làm luật chỉ quy định một trường hợp phạm tội, một khung hình phạt, không có tình tiết định khung hình phạt tăng nặng.

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 304 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc dưới sáu tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể được hưởng án treo.

 

Về đường lối xử lý đối với người phạm tội này, nói chung lấy giáo dục là chính, vì trình độ nhận thức pháp luật của nhân dân ta còn hạn chế, hơn nữa do pháp luật của chúng ta chưa hoàn thiện, nhất là pháp luật về thi hành án, trình độ, năng lực xét xử của Thẩm phán cũng còn nhiều bất cập, nhiều bản án hoặc quyết định của Toà án tuy đã có hiệu lực pháp luật nhưng chưa đúng pháp luật phải kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, phải xét xử đi xét xử lại nhiều lần, tạo ra tâm lý cho người phải thi hành án không tin vào phán quyết của Toà án, sau khi bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật vẫn không chịu thi hành mà khiếu nại lên Toà án cấp giám đốc thẩm với hy vọng được xét lại. Mặt khác, có những trường hợp cơ quan thi hành án đã cưỡng chế thi hành xong, nhưng sau đó Toà án cấp giám đốc thẩm lại huỷ bản án để giải quyết lại từ cấp sơ thẩm, nên tạo ra tâm lý chây ỳ không chịu thi hành mặc dù đã bị áp dụng biện pháp cưỡng chế cần thiết.

 

Việc truy cứu trách nhiệm hình sự và áp dụng hình phạt đối với người có hành vi không chấp hành án chỉ nên áp dụng đối với trường hợp đã được giáo dục nhiều lần, đã có những biện pháp cưỡng chế cần thiết nhưng người có nghĩa vụ chấp hành vẫn cố tình không chấp hành, có thái độ thách thức, chống đối, ảnh hưởng nghiêm trọng đến tình hình an ninh, trật tự ở địa phương. Ví dụ: Ngày 18-01-1999 Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh L thụ lý vụ án dân sự về việc kiện đòi nợ giữa nguyên đơn là Ngân hàng nông nghiệp huyện S và bị đơn là Vũ K. T ở tại phố X, thị trấn S. Sau đó, do các đương sự tự thỏa thuận được với nhau về việc trả nợ nên Tòa án nhân dân huyện Sa đã ra Quyết định số 03/QĐ-HGT ngày 28-02-1999 công nhận sự thỏa thuận giữa các bên đương sự.

 

Ngày 16-03-1999, Thi hành án huyện S ra Quyết định thi hành án số 19/QĐ-THA cho thi hành Quyết định số 03/QĐ-HGT ngày 28-02-1999 của Tòa án nhân dân huyện S. Ngày 26-03-1999 cán bộ của Thi hành án huyện S đã đến trực tiếp gặp Vũ K. T tại nhà riêng và yêu cầu thi hành án,  thì T xin khất đến ngày 30-4-1999 sẽ bán nhà trả nợ. Hết thời hạn như đã cam kết, nhưng T không tự nguyện thi hành. Ngày 17-5-1999 Thi hành án huyện S đã gửi Giấy báo số 14/THA yêu cầu T trả nợ cho Ngân hàng, nhưng T vẫn không chấp hành.

 

Ngày 27-5-1999 cán bộ Thi hành án huyện S, Uỷ ban nhân dân thị trấn Sa và Công an huyện S đến nhà Vũ K. T để yêu cầu T chấp hành Quyết định thi hành án số 19/QĐ-THA ngày 16-03-1999, đồng thời tiến hành xác minh tài sản nhưng T không có nhà và khoá cửa nhà lại. Ngày 29-5-1999 Thi hành án huyện S cùng một số ban, ngành địa phương đến nhà T để xác minh tài sản thì T khoá cửa nhà và bỏ đi ra ngoài đường. Khi được yêu cầu vào nhà để làm việc thì T có thái độ không chấp hành.

 

Ngày 19-6-1999 và ngày 22-6-1999, Thi hành án huyện S ra Thông báo số 41/TB-THA và Thông báo số 44/TB-THA về việc thi hành Quyết định số 19/QĐ-THA và yêu cầu T tự tìm nơi ở mới với thời hạn hết ngày 30-6-1999.

 

Sau khi đã áp dụng tất cả các biện pháp trên nhưng Vũ K. T vẫn không chấp hành nên ngày 04-8-1999, Thi hành án huyện S ra Quyết định cưỡng chế thi hành số 01/QĐ/THA.

 

Ngày 07-8-1999, Hội đồng cưỡng chế thi hành án đến nhà Vũ K. T tiến hành cưỡng chế kê biên tài sản, nhưng Trinh đã bỏ nhà đi chỗ khác. Đến 14 giờ cùng ngày T mới có mặt ở nhà, nhưng không chấp hành quyết định cưỡng chế, không ký biên bản và đi vào buồng riêng khoá trái cửa lại. Hội đồng cưỡng chế vẫn thi hành quyết định, lập biên bản kê biên tài sản và giao toàn bộ số tài sản đã kê biên cho T quản lý.

 

Ngày 08-8-1999, Thi hành án huyện S Thông báo số 81/TB-THA về việc Vũ K. T có thể tìm tài sản khác để thi hành khoản tiền vay nợ Ngân hàng, đã đến nhà T giao Thông báo và yêu cầu ký nhận vào biên bản, nhưng T không ký.

 

Ngày 07-10-1999, Thi hành án huyện S tiếp tục ra Thông báo số 90/THA và Giấy báo số 91/THA yêu cầu Vũ K. T di chuyển những tài sản không bị kê biên ra khỏi nhà để tiến hành phát mại tài sản đã kê biên, nhưng T không chấp hành mà còn có những lời nói lăng mạ, xúc phạm cán bộ thi hành án và chính quyền địa phương.

 

Vào hồi 08h00’ ngày 15-10-1999, Hội đồng cưỡng chế thi hành án đến nhà T thực hiện việc cưỡng chế thi hành án theo Quyết định số 02/THA ngày 14-10-1999 yêu cầu Vũ K. T giao nhà đã kê biên, nhưng T không có nhà và nhà đã bị khoá cửa. Hội đồng cưỡng chế tiến hành lập biên bản phá khoá cửa để thi hành quyết định. Khoảng 9h15’ T về nhà và có lời nói lăng mạ cán bộ thi hành án, xô đẩy một số cán bộ đang thi hành nhiệm vụ nên đã bị Công an huyện S tiến hành bắt giữ Vũ K. T.

 

Với hành vi cố tình không chấp hành án của Vũ K. T đã bị Tòa án nhân dân huyện S, tỉnh L áp dụng xử phạt 18 tháng tù về tội “Không chấp hành án”.

 

  13. TỘI KHÔNG THI HÀNH ÁN

 

Điều 305. Tội không thi hành án

 

1. Người nào có thẩm quyền mà cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Toà án gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

 

Định nghĩa: Không thi hành án là hành vi cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Toà án

 

Tội không thi hành án là tội phạm mới, Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy tội phạm này, do yêu cầu thực tiễn đặt ra có những bản án hoặc quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật nhưng vì những động cơ khác nhau nên người có thẩm quyền không ra quyết định thi hành án hoặc đã có quyết định thi hành án rồi nhưng không tổ chức thi hành, gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức và công dân.

 

Nếu xét về tôi danh thì đây là tội mới, nhưng trước khi có Bộ luật hình sự năm 1999  hành vi cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Toà án gây ra hậu quả nghiêm trọng thì tuỳ trường hợp mà người có hành vi cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Toà án có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Do hành vi cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành bản án, quyết định của Toà án xâm phạm đến hoạt động tư pháp, nên nhà làm luật tách hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành án của tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ thành tội phạm độc lập đó là tội không thi hành án.

 

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này cũng là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án hoặc trong việc thi hành quyết định thi hành án mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

 

Người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án bao gồm: Chánh án Toà án hoặc phó chánh án được Chánh án uỷ quyền đã ra bản án hoặc quyết định sơ thẩm hình sự; Chánh án Toà án được uỷ thác thi hành bản án, quyết định hình sự; Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự; những người khác theo quy định của pháp luật có thẩm quyền ra quyết định thi hành án.

 

Người có thẩm quyền có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án bao gồm:

- Cán bộ, chiễn sĩ Công an có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án đối với các bản án, quyết định hình sự đối với hình phạt trục xuất, tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

- Cán bộ, chiến sĩ quân đội nhân dân trong các đơn vị có nhiệm vụ thi hành án, đối với các bản án, quyết định hình sự đối với hình phạt tù có thời hạn, tù chung thân và tham gia Hội đồng thi hành hình phạt tử hình.

- Cán bộ chính quyền xã, phường, thị trấn hoặc cơ quan, tổ chức nơi người bị kết án cư trú hoặc làm việc có nhiệm vụ thi hành hình phạt quản chế, cấm cư trú, tước một số quyền công dân, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định và theo dõi, giáo dục, giám sát việc cải tạo của những người được hưởng án treo hoặc bị phạt cải tạo không giam giữ.

- Cán bộ trong các cơ sở chuyên khoa y tế có nhiệm vụ thi hành quyết định về bắt buộc chữa bệnh.

- Thủ trưởng, phó thủ trưởng, Chấp hành viên trong các cơ quan thi hành án dân sự có nhiệm vụ thi hành hình phạt tiền, tịch thu tài sản và quyết định dân sự trong vụ án hình sự, vụ án dân sự, hành chính, kinh tế, lao động.

 

Khi xác định chủ thể của tội phạm này cần chú ý: Có người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án, nhưng lại là người phải thi hành quyết định thi hành án của người khác. Do đó trong nhiều trường hợp người có thẩm quyền ra quyết định thi hành và người có nhiệm vụ phải thi hành quyết định thi hành án chỉ là một.

 

Hành vi không thi hành án chưa gây hậu quả nghiêm trọng thì người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án và người có thẩm quyền có nhiệm vụ thi hành quyết định thi hành án chỉ cấu thành tội phạm này, nếu người không thi hành án đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm. Đã bị lý kỷ luật về hành vi này là đã bị xử lý kỷ luật về hành vi không ra quyết định thi hành án hoặc hành vi không thi hành quyết định thi hành án. Nếu người có thẩm quyền chỉ bị xử lý kỷ luật vè hành vi khác thì không cấu thành tội không thi hành án.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Tội không thi hành án cũng là tội xâm phạm trực tiếp đến hoạt động tư pháp, đồng thời xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và người được thi hành án.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này cũng là các bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật và quyết định thi hành bản án, quyết định của Toà án.

 

Đối với bản án và quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật cũng tương tự như đối tượng tác động của tội không chấp hành án quy định tại Điều 304 Bộ luật hình sự. ( xem đối tượng tác động của tội không chấp hành án)

 

Đối với quyết định thi hành bản án, quyết định của Toà án là một quyết định do người có thẩm quyền ban hành. Người có thẩm quyền ban hành quyết định này bao gồm: Chánh án Toà án hoặc phó chánh án được Chánh án uỷ quyền; Chánh án Toà án được uỷ thác thi hành bản án, quyết định hình sự; Thủ trưởng cơ quan thi hành án dân sự; những người khác theo quy định của pháp luật có thẩm quyền ra quyết định thi hành án. Về hình thức của các quyết định này được ban hành theo mẫu nhất định, nhưng vấn đề quan trong không phải ở hình thức văn bản mà là nội dung các văn bản đó. Ví dụ: Một quyết định thi hình phạt tù đối với người bị kết án không chỉ bảo đảm đúng về hình thức mà còn phải đúng về nội dung, thủ tục và thẩm quyền ban hành. Nếu một quyết định đúng hình thức, đúng nội dung, đúng thủ tục nhưng không đúng thẩm quyền mà người có nghĩa vụ phải thi hành quyết định cố ý không thi hành, thì không cấu thành tội phạm này.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Căn cứ vào chủ thể của tội phạm này thì người phạm tội có thể thực hiện một trong hai hành vi: không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hánh án. Đây cũng là loại hành vi phạm tội mà khoa học luật hình sự gọi là không hành động.

 

- Không ra quyết định thi hành án

 

Không ra quyết định thi hành án là hành vi của người có thẩm quyền trong việc ra quyết định thi hành án nhưng đã không ra quyết định thi hành, và do không ra quyết định thi hành án nên bản án hoặc quyết định của Toà án không được thi hành. Ví dụ: Bùi Văn T bị Toà án nhân dân quận H phạt 3 năm tù về tội chứa mại dâm; trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Bùi Văn T chỉ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “cấm đi khỏi nơi cư trú”. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Bùi Văn T làm đơn gửi Cao Văn P, Chánh án Toà án nhân dân quận H xin hoãn thi hành án với lý do hoàn cảnh gia đình khó khăn, chưa tìm được người quản lý khách sạn, các con còn nhỏ không có người chăm sóc. Khi nhận được đơn xin hoãn thi hành án của Bùi Văn T, Cao Văn P biết rõ là T không đủ điều kiện được hoãn thi hành án, nhưng do trước đây, Bùi Văn T đã giúp đỡ gia đình P về kinh tế, nên P đã cố ý không ra quyết định thi hành phạt tù đối với Bùi Văn T. Do Bùi Văn T chưa bị bắt thi hành án phạt tù nên T lại tiếp tục chứa mại dâm.

 

- Không thi hành quyết định thi hành án

 

Không thi hành quyết định thi hành án là hành vi của người có thẩm quyền trong việc thi hành án nhưng đã không thi hành. Ví dụ: Mặc dù đã có quyết định thi hành án phạt tù đối với Nguyễn Hải T, nhưng Phùng Văn S Trưởng Công an huyện đã cố ý không tổ chức thi hành quyết định của Chánh án Toà án tỉnh, nên Nguyễn Hải T không bị bắt thi hành án và tiếp tục phạm tội mới.

 

Hành vi không thi hành quyết định thi hành án của người có nhiệm vụ phải thi hành là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án có thể có cả hành vi không ra quyết định thi hành án và hành vi không thi hành quyết định thi hành án. Tuy nhiên, nếu là người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án thì hành vi không thi hành quyết định thi hành án là không thi hành quyết định của người khác chứ không phải chính quyết định của mình.

  

b. Hậu quả

 

Hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu người có thẩm quyền không ra quyết định thi hành hoặc không thi hành quyết định thi hành án nhưng chưa gây hậu quả nghiêm trọng và cũng chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi này thì chưa cấu thành tội không thi hành án.

 

Hậu quả nghiêm trọng do hành vi không ra quyết định thi hành hoặc không thi hành quyết định thi hành án gây ra là những thiệt hại nghiêm trọng cho cơ quan, tổ chức và của người được thi hành án. Do tính chất, mức độ nghiêm trọng của loại tội phạm này mà việc xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành án không giống như đối với các tội phạm khác. Vì vậy, khi xác định hậu quả nghiêm trọng do hành vi không thi hành án gây ra cần phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể chứ không thể có một hậu quả chung cho tất cả các hành vi không thi hành án được. Ví dụ: hậu quả do không thi án đối với người phạm tội bị phạt tù giam gây ra khác với hậu quả do hành vi không thi hành án đối với người phạm tội bị phạt cải tạo không giam giữ hoặc được hưởng án treo; hậu quả do không thi hành khoản tiền án phí gây ra sẽ khác so với hậu quả do hành vi không thi hành án phải trả nhà cho người được Toà án công nhận quyền sở hữu nhà.

 

Hiện nay, chưa có hướng dẫn thể nào là hậu quả nghiêm trọng do hành vi không thi hành án gây ra. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử, nghiên cứu các quy định khác về hậu quả nghiêm trọng đã được hướng dẫn, chúng ta có thể coi các thiệt hại sau đây do hành vi không thi hành án gây ra là hậu quả nghiêm trọng:

 

- Gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ 50 triệu đồng đến 150 triệu đồng;

 

- Do không bị vào trại giam thi hành hình phạt tù nên người bị kết án tiếp tục phạm tội mới do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do vô ý;

- Do không thi hành án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động nên dẫn đến các đương sự trong các vụ án này bức xúc gây ra những tội phạm khác như: giết người, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ… hoặc gây ra những hậu quả khác làm mất trật tự nghiêm trọng đến an ninh quốc gia hoặc an toàn xã hội, gây mất ổn định cho tình hình an ninh, trật tự ở địa phương.v.v… 8

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội không thi hành án, ngoài hành vi khách quan, hậu quả  nhà làm luật không còn quy định một dấu hiệu khách quan nào khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, khi xác định một trường hợp cụ thể đối với hành vi không thi hành án của người có thẩm quyền không thể không xem xét đến hoàn cảnh, những yếu khách quan tác động đến hành vi của người có thẩm quyền. Điều luật chỉ quy định cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành chứ không quy định lợi dụng chức vụ, quyền hạn để không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành, nhưng hầu như người phạm tội nếu đã cố ý phạm tội thì cũng tức là đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để phạm tội. Do đó khi xác định hành vi cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành cần gắn liền với chức vụ, quyền hạn của người có thẩm quyền.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội không thi hành án thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, điều này thể hiện ngay trong điều văn của điều luật “cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành án”. Nếu người có thẩm quyền không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành án nhưng vì lý do khách quan như: để quên, do không được báo cáo, do không nhận được quyết định, do thiếu trách nhiệm, do phải đi công tác dài hạn hoặc dã uỷ quyền cho cấp phó hoặc do những lý do khách quan khác dẫn đến người có thẩm quyền không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành án thì tuỳ trường hợp người có hành vi có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác hoặc bị xử lý kỷ luật chứ không thuộc trường hợp phạm tội không thi hành án.

 

Động cơ tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này, dù người phạm tội với động cơ nào đi nữa thì hành vi cố ý không hành án đều đã cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, đối với tội phạm này, động cơ của người phạm tội chủ yếu là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Nếu người phạm tội nhận hối lộ mà không thi hành án thì ngoài tội không thi hành án, người phạm tội cồn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 305 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội chưa bị xử lý kỷ luật về hành vi không thi hành án và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng dưới sau tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội đã bị xử lý kỷ luật về hành vi không thi hành án và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể được hưởng án treo. Tuy nhiên, việc cho người phạm tội được hưởng án treo phải hết sức chặt chẽ, vì người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn lại phạm tội do cố ý, gây mất lòng tin của nhân dân vào các cơ quan tư pháp.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là: phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Trường hợp phạm tội này cũng tương tự như một số trường hợp khác, nhà làm luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt có tính chất, mức đọ nguy hiểm khác nhau trong cùng một khung hình phạt. Do đó, khi quyết định hình phạt nếu người phạm tội chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng thì mức hình phạt phải thấp hơn trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

Cũng như trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi “cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành án”, do chưa có hướng dẫn nên có thể coi hậu quả do hành vi “cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành án” gây ra nếu:

 

- Gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ trên 150 triệu đồng đến 500 triệu đồng là hậu quả rất nghiêm trọng; gây thiệt hại trên 500 triệu đồng là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

- Do không bị vào trại giam thi hành hình phạt tù nên người bị kết án tiếp tục phạm tội mới nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do cố ý là hậu quả rất nghiêm trọng; nếu phạm tội mới là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

- Ngoài ra có thể căn cứ vào tình hình chính trị, xã hội ở địa phương, sự ảnh hưởng của việc không thi hành bản án, quyết định của Toà án để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi “cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành án” gây ra.9

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 305 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù hoặc chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Nếu gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

Nhà làm luật không quy định hình phạt bổ sung đối với người phạm tội không thi hành án. Đây cũng là vấn đề có ý kiến cho rằng, nhà làm luật không quy định hình phạt bổ sung “cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định” là thiếu sót, vì chủ thể của tội phạm này là người có chức vụ, quyền hạn và hành vi phạm tội của họ là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn. Nói chung, đối với các tội phạm khác nếu chủ thể là người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội nhà làm luật đều quy định hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định là hình phạt bổ sung. Ý kiến này theo chúng tôi là hợp lý, hy vọng khi có củ trương sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự nhà làm luật sẽ xem xét bổ sung hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định là hình phạt bổ sung đối với người phạm tội này.

 

   14. TỘI CẢN TRỞ VIỆC THI HÀNH ÁN

 

Điều 306.  Tội cản trở việc thi hành án 

 

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến năm năm:

a ) Có tổ chức;

b ) Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Cản trở việc hành án là hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn làm cho việc thi hành án không thực hiện được hoặc thực hiện không đúng với bản án hoặc quyết định của Toà án.

 

Như đã phân tích trong tội “không chấp hành án”, Tội cản trở việc thi hành án là tội phạm đã được quy định tại khoản 2 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1985. Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1985, khoản 1 quy định tội “không chấp hành án” còn khoản 2 quy định “tội cản trở việc thi hành án” là hai tội độc lập.

 

Khác với Điều 304 Bộ luật hình sự quy định về tội “không chấp hành án”, Điều 306 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định về tội “cản trở việc thi hành án” có những thay đổi đáng kể.

 

Về cấu tạo, khoản 2 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định một trường hợp phạm tội (một khoản, một khung hình phạt), thì Điều 306 được cấu tạo thành 3 khoản trong đó khoản 1 là cấu thành cơ bản, khoản 2 là cấu thành tăng nặng với ba tình tiết là yếu tố định khung hình phạt “có tổ chức” và “gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”, còn khoản 3 là hình phạt bổ sung. 

 

Về cấu thành cơ bản của tội phạm này, khoản 1 Điều 306 cũng thay đổi theo hướng nhẹ hơn so với khoản 2 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1985. Nếu khoản 2 Điều 240 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định cứ lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án không cần phải có bất cứ điều kiện gì khác là đã cấu thành tội phạm, thì khoản 1 Điều 306 Bộ luật hình sự năm 1999 nhà làm luật quy định hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn cố ý cản trở việc thi hành án phải “gây hậu quả nghiêm trọng” mới cấu thành tội phạm.

 

Do cấu tạo thành 2 khung hình phạt nên khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 306 là cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, còn khoản 2 Điều 306 từ hai năm đến năm năm.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ có những người có chức vụ, quyền hạn mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

 

Nếu không phải là người có chức vụ, quyền hạn mà có hành vi cản trở việc thi hành án thì tuỳ trường hợp mà người có hành vi cản trở bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành án hoặc tội chống người thi hành công vụ. Ví dụ: Hoàng Kim D là hàng xóm của Vũ Văn T. Do không chấp hành quyết định thi hành án, nên Cơ quan thi hành án đã tổ chức cưỡng chế thi hành án đối với Vũ Văn T. Trong khi lực lượng cưỡng chế thi hành án đang thực hiện việc cưỡng chế thì Hoàng Kim D đã sang nhà Vũ Văn T lăng mạ, ngăn cản lực lượng cưỡng chế thi hành án tại gia đình Vũ Văn T. Hành vi của Hoàng Kim D là hành vi chống người thi hành công vụ chứ không phải là hành vi cản trở việc thi hành án, vì D không phải là người có chức vụ, quyền hạn.

 

Người có chức vụ, quyền hạn là người do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ .

 

Người có chức vụ, quyền hạn có thể là người có chức vụ, quyền hạn liên quan đến việc thi hành án, nhưng cũng có cả những người không liên quan gì đến việc thi hành án, nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cản trở việc thi hành án.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Cản trở việc thi hành án cũng tức là không muốn bản án hoặc quyết định của Toà án được thi hành nên khách thể của tội phạm này cũng tương tự như khách thể của các tội phạm quy định tại các Điều 304. 305 Bộ luật hình sự, nó xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và người được thi hành án.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này là những người có trách nhiệm thi hành án như: người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án và người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc người phải thi hành án nhằm làm cho việc thi hành án không được thực hiện hoặc thực hiện không đúng với bản án hoặc quyết định của Toà án. Thông qua những người này mà người phạm tội cản trở việc thi hành án. Cản trở việc thi hành án là cản trở việc ra quyết định thi hành án hoặc cản trở việc thi hành quyết định thi hành án, hoặc cản trở việc chấp hành án. Tuy nhiên, trong một số trường hợp người phạm tội không trực tiếp cản trở người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án, mà bằng những thủ đoạn khác tác động đến những người này như: đe doạ, dụ dỗ những người thân của người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án ,để những người này tác động đến người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án tạm dừng hoặc huỷ bỏ việc thi hành án.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Người phạm tội cản trở việc thi hành án là người có chức vụ, quyền hạn nên trước hết họ phải lợi dụng chức vụ, quyền hạn mà họ có để tác động đến người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc tác động đến người phải chấp hành án để việc thi hành án không được thực hiện. Nếu người có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để cản trở việc thi hành án thì không phải là hành vi phạm tội “cản trở việc thi hành án” mà  tuỳ thuộc vào trường hợp cụ thể người có chức vụ, quyền hạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm khác. Ví dụ: Bùi Tiến D là Giám đốc Công ty xây dựng X đã lợi dụng việc quen biết với Vũ Quốc A là Chấp hành viên Đội thi hành án quận H để đưa hối lộ cho A nhằm trì hoãn việc thi hành khoản tiền mà Công ty xây dựng X phải bồi thường cho Công ty cung ứng vật tư, thiết bị Y theo bản án kinh tế của Toà án. Hành vi của Bùi Tiến D là hành vi đưa hối lộ, còn hành vi của Vũ Quốc A là hành vi nhận hối lộ và hành vi không thi hành án.

 

Bằng việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình, người phạm tội có thể dùng những thủ đoạn khác nhau để tác động đến người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án hoặc tác động đến người phải chấp hành án làm cho việc thi hành án không được thực hiện như: gọi điện, viết thư cho người có thẩm quyền ra quyết định thi hành án hoặc người có thẩm quyền thi hành quyết định thi hành án tạm dừng việc ra quyết định hoặc tạm dừng việc thi hành quyết định, hoặc tác động đến người phải chấp hành án; tạo điều kiện cho người phải chấp hành án bỏ đi khỏi địa phương một cách “hợp pháp” (đi công tác học tập ở nước ngoài dài hạn); báo trước cho người phải châp hành án bỏ trốn hoặc bỏ đi khỏi địa phương, để tẩu tán tài sản, để ngăn cản, chống đối lực lượng thi hành án trước khi cơ quan có thẩm quyền thực hiện việc thi hành án, hoặc có những hành vi khác gây khó khăn cho việc thi hành án. Hành vi cản trở việc thi hành án thường gắn liền với hành vi không thi hành án hoặc hành vi không chấp hành án.

  

b. Hậu quả

 

Hậu quả nghiêm trọng của hành vi cản trở việc thi hành án là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi cản trở việc thi hành án chưa gây ra hậu quả hoặc tuy đã gây ra hậu quả nhưng hậu quả đó chưa nghiêm trọng thì hành vi cản trở việc thi hành án chưa cấu thành tội phạm.

 

Cho đến nay chưa có giải thích hoặc hướng dẫn thế nào hậu quả nghiêm trọng do hành vi cản trở thi hành án gây ra. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử loại tội phạm này, tham khảo hướng dẫn tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng đã được hướng dẫn đối với tội phạm khác, chúng ta có thể coi hậu quả nghiêm trọng do hành vi cản trở thi hành án gây ra nếu:

 

- Gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ 50 triệu đồng đến 150 triệu đồng;

 

- Do không bị vào trại giam thi hành hình phạt tù nên người bị kết án tiếp tục phạm tội mới do cố ý hoặc tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do vô ý;

- Do không thi hành án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động nên dẫn đến các đương sự trong các vụ án này bức xúc gây ra những tội phạm khác như: giết người, cố ý gây thương tích, gây rối trật tự công cộng, chống người thi hành công vụ… hoặc gây ra những hậu quả khác làm mất trật tự nghiêm trọng đến an ninh quốc gia hoặc an toàn xã hội, gây mất ổn định cho tình hình an ninh, trật tự ở địa phương.v.v… 10

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội cản trở việc thi hành án, ngoài hành vi khách quan, hậu quả nghiêm trọng do hành vi cản trở thi hành án gây ra, nhà làm luật không còn quy định dấu hiệu khách quan nào khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên có ý kiến cho rằng, đây là hành vi phạm tội của người có chức vụ, quyền hạn nên lẽ ra nhà làm luật cần quy định trường hợp nếu hành vi cản trở việc thi hành án chưa gây hậu quả hoặc tuy đã gây ra hậu quả nhưng hậu quả đó chưa nghiêm trọng mà người phạm tội đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm thì vẫn bị coi là phạm tội cản trở việc thi hành án. Theo chúng tôi, ý kiến này là hoàn toàn phù hợp. Hy vọng rằng khi có chủ trương sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự ý kiến này sẽ được xem xét.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội cản trở việc thi hành án thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là biết rõ hành vi của mình là hành vi trái pháp luật nhằm cản trở việc thi hành án, mong muốn cho hậu quả hoặc để mặc cho hậu quả xảy ra.

 

Nếu người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn ngăn cản việc thi hành án nhưng họ không nhận thức được hành vi đó là hành vi trái pháp luật mà họ ngộ nhận hành vi đó là hành vi thuộc nhiệm vụ vủa mình thì không phải là cố ý cản trở việc thi hành án. Ví dụ: Nguyễn Quang H là Chủ tịch xã K đã ký công văn gửi Cơ quan thi hành án huyện T phản đối quyết định cưỡng chế thi hành án của cơ quan thi hành án. vì H cho rằng bản án của Toà án quyết định buộc ông Đặng Quốc S phải giao nhà cho bà Hà Thị M là không đúng pháp luật. Trong công văn gửi cơ quan thi hành án huyện T, còn có nội dung: nếu cơ quan thi hành án vẫn tổ chức cưỡng chế thì với tư cách là Chủ tịch xã ông H sẽ không phối hợp với lực lượng cưỡng chế thi hành án.

 

Động cơ tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này, dù người phạm tội với động cơ nào đi nữa thì hành vi cản trở việc thi hành án đều đã cấu thành tội phạm. Tuy nhiên, đối với tội phạm này, động cơ của người phạm tội chủ yếu là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác.

 

Nếu người phạm tội nhận hối lộ để cản trở việc thi hành án thì ngoài tội cản trở việc thi hành án, còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 306 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 306 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc được áp dụng hình phạt dưới sáu tháng tù, nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể được hưởng án treo.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 306 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật nhà làm luật quy định ba tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là: có tổ chức; phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

a. Có tổ chức 

 

Cản trở việc thi hành án có tổ chức là trường hợp có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức. Nhưng đối với người thực hành nhất thiết phải là người vó chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở việc thi hành án, còn đối với những người dồng phạm khác có thể không phải là người có chức vụ, quyền hạn.

 

Cản trở việc thi hành án có tổ chức sẽ làm cho việc thi hành án gặp khó khăn hơn và khả năng gây ra hậu quả của cũng nghiêm trọng hơn.

 

b. Gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Cũng như đối với trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi cản trở việc thi hành án gây ra, cho đến nay chưa có giải thích hoặc hướng dẫn trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi cản trở việc thi hành gây ra. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử loại tội phạm này, tham khảo hướng dẫn tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đã được hướng dẫn đối với tội phạm khác, chúng ta có thể coi hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi cản trở thi hành án gây ra nếu:

 

- Gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ trên 150 triệu đồng đến 500 triệu đồng là hậu quả rất nghiêm trọng; gây thiệt hại trên 500 triệu đồng là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

- Do không bị vào trại giam thi hành hình phạt tù nên người bị kết án tiếp tục phạm tội mới nghiêm trọng hoặc rất nghiêm trọng do cố ý là hậu quả rất nghiêm trọng; nếu phạm tội mới là tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý là gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

- Ngoài ra có thể căn cứ vào tình hình chính trị, xã hội ở địa phương, sự ảnh hưởng của việc không thi hành bản án, quyết định của Toà án để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi “cố ý không ra quyết định thi hành án hoặc không thi hành quyết định thi hành án” gây ra.11

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 303 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến năm năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trong hai trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật, không thuộc trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù. Nếu thuộc cả hai trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật, thuộc trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến năm năm tù.

 

3. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Cũng như đối với các tội phạm khác, việc áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ đối với người phạm tội cản trở việc thi hành án phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể để có áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ hay không và nếu cấm thì cấm chức vụ cụ thể gì.

 

   15. TỘI KHAI BÁO GIAN DỐI HOẶC CUNG CẤP TÀI LIỆU SAI SỰ THẬT

 

Điều 307.  Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật 

 

1. Người giám định, người phiên dịch, người làm chứng nào mà kết luận, dịch, khai gian dối hoặc cung cấp những tài liệu mà mình biết rõ là sai sự thật, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến  một  năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ một năm đến ba  năm:

a) Có tổ chức;

b) Gây hậu quả nghiêm trọng.

3. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm.

4. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật là hành vi kết luận gian dối của người giám định, dịch gian dối của người phiên dịch, lời khai gian dối của người làm chứng hoặc hành vi cung cấp những tài liệu mà người giám định, người phiên dịch, người làm chứng mà họ biết rõ là sai sự thật.

 

Tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật là tội phạm đã được quy định tại khoản Điều 241 Bộ luật hình sự năm 1985. So với Điều 241 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 307 Bộ luật hình sự năm 1999 có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Về cấu tạo, Điều 241 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định một trường hợp phạm tội (một khoản, một khung hình phạt), thì Điều 307 được cấu tạo thành 4 khoản, trong đó khoản 1 là cấu thành cơ bản, khoản 2 và khoản 3 là cấu thành tăng nặng với các tình tiết là yếu tố định khung hình phạt “có tổ chức” và “gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng”, còn khoản 4 là hình phạt bổ sung. 

 

Về cấu thành cơ bản của tội phạm này, không có gì thay đổi so với Điều 241 Bộ luật hình sự năm 1985.

 

Về hình phạt, do cấu tạo thành 3 khung hình phạt nên khung hình phạt quy định tại khoản 1 Điều 307 là cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm; khoản 2 của điều luật có khung hình phạt từ một năm đến ba năm; khoản 3 của điều luật có khung hình phạt từ ba năm đến bảy năm.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này cũng là chủ thể đặc biệt, chỉ có người giám định, người phiên dịch và người làm chứng mới có thể là chủ thể của tội phạm này.

 

Theo quy định của pháp luật tố tụng thì:

- Người giám định là người có kiến thức cần thiết về lĩnh vực cần giám định được cơ quan tiến hành tố tụng trưng cầu theo quy định của pháp luật. Người giám định có thể là giám định viên tư pháp hoặc người có kiến thức về lĩnh vực cần giám định.

- Người phiên dịch là người viết và nói được tiếng của người tham gia tố tụng và tiếng Việt được cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu trong trường hợp có người tham gia tố tụng không sử dụng được tiếng Việt hoặc người tham gia tố tụng là người câm hoặc người điếc.

 

- Người làm chứng là người biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án và được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng. Người làm chứng còn được gọi là nhân chứng mà một số sách báo và nhân dân ta thường dùng. Người làm chứng có thể là người trực tiếp biết được tội phạm đang xảy ra như: nhìn thấy một người dùng súng bắn chết người khác hoặc nhìn thấy người phạm tội đang chạy trốn hoặc biết được tài sản bị trộm cắp là tài sản của chủ sử hữu.v.v... hoặc biết được những tin tức về tội phạm qua trung gian như: qua người khác kể lại hoặc qua tài liệu. Nếu một người biết được những tình tiết có liên quan đến vụ án nhưng không được cơ quan tiến hành tố tụng triệu tập đến làm chứng mà họ có lời nói gian dối thì cũng không phải là chủ thể của tội phạm này. Vì vậy, cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định chính xác tư cách tham gia tố tụng của người làm chứng để những người này có nghĩa vụ khai báo đúng sự thật. Thực tiễn xét xử cho thấy, có những người biết rất rõ những tình tiết của vụ án nhưng cơ quan tiến hành tố tụng lại xác định họ là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan hoặc là người bị hại nên mặc dù họ đã khai báo gian dối dẫn đến hậu quả làm cho việc kết luận vụ án không đúng sự thật nhưng không thể truy cứu trách nhiệm hình sự họ về tội khai báo gian dối được. Do đó, khi xác định một người tham gia tố tụng với nhiều tư cách khác nhau, trong đó có tư cách là người làm chứng thì ngoài tư cách khác, cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định họ còn là người làm chứng để họ có trách nhiệm khai báo trung thực về các tình tiết của vụ án. Ví dụ: A, B, C và D rủ nhau đến khu ký túc xá trường đại học Thủy lợi chơi. Tại đây, A và B đã gây sự rồi đánh nhau với một số sinh viên của trường đại học Thuỷ lợi. Trong lúc đánh nhau, B đã dùng dao nhíp (loại dao nhỏ nhọn) đâm một sinh viên có tên là Q gây thương tích cho Q có tỷ lệ thương tật là 45%. Sau khi phạm tội vì trời tối nên không ai nhìn thấy B đâm Q và B cũng kịp vứt con dao xuống rãnh nước gần khu vực ký túc xá. Việc B mang theo dao nhíp nhỏ chỉ có D biết, D cũng biết rõ là B đã dùng dao nhíp đâm Q, nhưng khi Cơ quan điều tra lấy lời khai của A, B, C và D thì cả bốn người đều khai trong lúc đánh nhau, không biết ai đâm Q. Còn anh Q thì xác định rõ người đâm anh là B. Cơ quan điều tra đã khởi tố B về tội cố ý gây thương tích và xác định A, C và D là người có nghĩa vụ liên quan. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã xác định lời khai của D là gian dối nhưng vì không xác định D là người làm chứng mà chỉ xác định là người có nghĩa vụ liên quan đến vụ án nên không khởi tố D về tội khai báo gian dối được.  

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật là hành vi làm sai lệch các tình tiết khách quan của vụ án; gây khó khăn cho việc tìm ra sự thật của vụ án nên khách thể của tội phạm này cũng tương tự như khách thể của các tội phạm quy định tại các Điều 304, 305, 306 Bộ luật hình sự, nó xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và của công dân. Không ít trường hợp do khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật mà dẫn đến những hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng như: từ có tội thành không có tội hoặc ngược lại, từ chủ sở hữu căn nhà thành người đi ở nhờ.v.v…  

 

Đối tượng tác động của tội phạm này tuỳ thuộc vào chủ thể của tội phạm mà đối tượng tác động có thể là quyết định giám định tư pháp, là lời dịch, bản dịch, là lời khai của người làm chứng, các biên bản ghi lời khai của người làm chứng  hoặc những tài liệu mà người giám định, người phiên dịch, người làm chứng cung cấp cho cơ quan tiến hành tố tụng.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Căn cứ vào chủ thể mà người phạm tội có thể thực hiện một hoặc một số hành vi khách quan như sau:

 

Đối với người giám định đã kết luận giám định gian dối không đúng với tình tiết khách quan của vụ án như: chất đem gửi đến là chát ma tuý nhưng người giám định đã kết luận là không phải là chất ma tuý, nên Cơ quan điều tra không khởi tố được bị can đối với người vận chuyển chất ma tuý; tỷ lệ thương tật của người bị hại dưới 9% nhưng người giám định lại kết luận người bị hại có tỷ lệ thương tật là 25%; công trình xây dựng không đúng thiết kế nhưng người giám định lại kết luận là đúng thiết kế; người phạm tội không mắc bệnh tâm thần nhưng người giám định lại kết luận là mắc bệnh tâm thần; người phạm tội đã đủ 18 tuổi nhưng người giám định lại kết luận mới 16 tuổi; chứ ký trong giấy biên nhận đúng là của đương sự nhưng lại kết luận là không phải. v.v… 

 

Đối với người phiên dịch đã phiên dịch không đúng với tiếng nói, chữ viết hoặc dấu hiệu của người tham gia tố tụng mà cơ quan tiến hành tố tụng yêu cầu phiên dịch; xuyên tạc nội dung tài liệu mà người phiên dịch có trách nhiệm phải dịch theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng; xuyên tạc nội dụng câu hỏi, câu trả lời mà người phiên dịch có trách nhiệm phải dịch trong quá trình lấy lời khai của người tiến hành tố tụng đối với người tham gia tố tụng trong vụ án hình sự, đối với đương sự trong vụ án dân sự, kinh tế, lao động, hành chính.

 

Người phiên dịch có thể dịch trực tiếp bằng lời nói, nhưng cũng có thể dịch bằng chữ viết.

 

 Thực tiễn xét xử cho thấy, việc xác định người phiên dịch dịch sai trong một số trường hợp không đơn giản nhất là việc phiên dịch bằng lời nói được thực hiện trong quá trình điều tra hoặc tại phiên toà, các phương tiện kỹ thuật để kiểm tra độ chính xác của lời dịch không có. Cũng chính vì vậy, thực tiễn xét xử chưa kể đến các yếu tố khác chỉ riêng đối với hành vi dịch sai cũng chưa có trường hợp nào bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cung cấp tài liệu sai sự thật.

 

Đối với người làm chứng đã có lời khai không đúng với các tình tiết của vụ án (chứng gian) hoặc cung cấp những tài liệu sai sự thật về vụ án như; bịa đặt ra những tình tiết không có hoặc phủ nhận những tình tiết có thật của vụ án như: nhìn thấy nhưng khai là không nhìn thấy hoặc ngược lại; có mặt ở nơi xảy ra vụ án nhưng khai là không có mặt hoặc ngược lại; xác nhận gian dối tình trạng ngoại phạm của người phạm tội; cung cấp các tài liệu, đồ vật, tin tức nhằm làm sai lệch các tình tiết của vụ án.v.v…

 

Khi xác định tội danh, tuỳ thuộc vào hành vi cụ thể của người phạm tội mà định tội là tội khai báo gian dối hoặc tội cung cấp tài liệu sai sự thật. Nếu người phạm tội chỉ có hành vi khai báo gian dối thì định tội là “khai báo gian dối”, nếu người phạm tội chỉ thực hiện hành vi cung cấp tài liệu sai sự thật thì định tội là “cung cấp tài liệu sai sự thật” mà không định tôị danh như điều luật quy định “khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật” vì định tội như vậy cũng tức là chưa biết là phạm tội gì. Nếu người phạm tội thực hiện cả hai hành vi khai báo gian dối và cung cấp tài liệu sai sự thật thì định tội là “khai báo gian dối và cung cấp tài liệu sai sự thật”.

  

b. Hậu quả

 

Hậu quả của hành vi khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì tuỳ trường hợp mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 hoặc khoản 3 của điều luật.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật, ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật không còn quy định dấu hiệu khách quan nào khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành.

 

Khi xác định hành vi phạm tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật cần chú ý phân biệt với hành vi giúp sức người phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án. Nếu người giám định, người phiên dịch, người làm chứng khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật theo yêu cầu của Điều tra viên, Kiểm sát viên, Thẩm phán, Hội thẩm, nhân viên tư pháp khác, người bào chữa, người bảo vệ quyền lợi của đương sự thì phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án với vai trò đồng phạm quy định tại Điều 300 Bộ luật hình sự.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý. Dấu hiệu này được nhà làm luật quy định ngay trong cấu thành, đó là: “gian dối, biết rõ là sai sự thật”. Gian dối cũng có nghĩa là không trung thực chỉ có cố ý mới thực hiện được, còn biết rõ là sai sự thật mà vẫn cung cấp là thể hiện sự cố ý của người cung cấp.

 

Đối với tội phạm này, việc xác định người phạm tội có cố ý hay không lại là vấn đề phức tạp. Khi người làm chứng khai báo mà cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh đó là lời khai không đúng sự thật thì thường được họ trả lời là “tôi biết sao thì khai vậy còn quyết định như thế nào là do cơ quan tiến hành tố tụng”, chứ không bao giờ họ thừa nhận rằng mình đã cố ý khai sai sự thật. Hoặc Giám định viên khi có kết luận giám định không đúng với sự thật hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật thì người giám định cũng không thừa nhận là mình biết rõ là sai sự thật hoặc đưa ra những căn cứ để cho rằng kết luận của mình là đúng (không nhận sai). Vậy làm thế nào để xác định được ý thức chủ quan của người phạm tội ? Đây là một việc khó. Tuy nhiên, để xác định ý thức chủ quan của người phạm tội các cơ quan tiến hành tố tụng, ngoài việc xác định tính khách quan của lời khai, của tài liệu thì vấn đề quan trọng phải căn cứ vào động cơ của người phạm tội, mặc dù đây không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành; động cơ của người phạm tội chủ yếu là vì vụ lợi hoặc động cơ cá nhân khác. Nếu người phạm tội là người giám định mà nhận tiền hoặc lợi ích vật chất để kết luận giám định gian dối không đúng với tình tiết khách quan của vụ án; người phiên dịch là người có chức vụ, quyền hạn nhận tiền hoặc lợi ích vật chất để dịch không đúng với tiếng nói, chữ viết hoặc dấu hiệu của người tham gia tố tụng thì ngoài tội cung cấp tài liệu sai sự thật, họ còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 307 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 307 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến một năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Đối với tội phạm này, chính sách hình sự của Nhà nước ta là chủ yếu lấy giáo dục là chính, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người vì động cơ vụ lợi; đối với những người vì nể nang hoặc là những người thân thích với người tham gia tố tụng mà khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật thì chủ yếu giáo dục để họ nhận ra sai phạm; nếu họ còn tái phạm thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 307 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt cảnh cáo hoặc cải tạo không giam giữ. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị áp dụng hình phạt tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể được hưởng án treo. Đối với người phạm tội quy định tại khoản 1 của điều luật nói chung không nên áp dụng hình phạt tù giam.

 

Có ý kiến cho rằng, đối với hành vi khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật mà nội dung của lời khai và tài liệu đó nhằm có lợi cho những người thân thích là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của mình mà không thuộc trường hợp người thân thân thích của mình phạm các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật này thì không coi là hành vi phạm tội, vì theo quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ luật hình sự thì người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự trong trường hợp không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 của Bộ luật này. Chúng tôi thấy ý kiến này là phù hợp, hy vọng rằng khi có chủ trương sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự ý kiến này sẽ được các nhà làm luật quan tâm xem xét.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật nhà làm luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là: phạm tội có tổ chức và phạm tội gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

a. Có tổ chức 

 

 Khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật có tổ chức là trường hợp có sự câu kết chặt chẽ giữa những người cùng thực hiện tội phạm, trong đó có người tổ chức, người thực hành, người xúi dục, người giúp sức.

 

Khi xác định khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật có tổ chức cần chú ý trường hợp người có hành vi khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật là hành vi giúp sức của tội phạm làm sai lệch hồ sơ vụ án. Nếu người có khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật là hành vi giúp sức thì họ là đồng phạm với người phạm tội làm sai lệch hồ sơ vụ án.

 

Người tổ chức, người xúi dục, người giúp sức có thể không phải là người làm chứng, người phiên dịch, người giám định, nhưng người thực hành nhất thiết phải là người làm chứng, người phiên dịch hoặc người giám định.

 

b. Gây hậu quả nghiêm trọng

 

Cho đến nay chưa có giải thích hoặc hướng dẫn thế nào hậu quả nghiêm trọng do hành vi khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật gây ra và thực tiễn xét xử đối với tội phạm này cũng rất ít. Tuy nhiên, tham khảo hướng dẫn tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng đã được hướng dẫn đối với tội phạm khác, chúng ta có thể coi hậu quả nghiêm trọng do hành vi khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật gây ra nếu:

 

- Do khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ 50 triệu đồng đến 150 triệu đồng;

 

- Do khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội mà tội phạm đó là tội phạm ít nghiêm trọng hoặc tội phạm nghiêm trọng, hoặc gây ra những hậu quả phi vật chất khác ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng, làm cho người bị kết án oan mất việc làm, hoặc để lọt người có tội để người này tiếp tục phạm tội mới.v.v...12

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 307 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ một năm đến ba năm, cũng là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trong hai trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới một năm tù hoặc chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ đến một năm. Nếu thuộc cả hai trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội vẫn có thể được hưởng án treo.

 

3. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 307 Bộ luật hình sự

 

Cũng tương tự như một số trường hợp đối với tội phạm khác, khoản 3 của điều luật nhà làm luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt có tính chất mức độ nguy hiểm khác nhau trong cùng một khung hình phạt, đó là: gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Cũng như đối với trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật gây ra, các cơ quan chức năng chưa có giải thích hoặc hướng dẫn hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật gây ra là thế nào. Tuy nhiên, tham khảo hướng dẫn tình tiết gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng đã được hướng dẫn đối với tội phạm khác, căn cứ vào tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội này, chúng ta có thể coi hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi cản trở thi hành án gây ra nếu:

 

- Do khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật gây thiệt hại về vật chất có giá trị từ trên 150 triệu đồng đến 500 triệu đồng là hậu quả rất nghiêm trọng; nếu gây thiệt hại trên 500 triệu đồng là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

- Do khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội mà tội phạm đó là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc gây ra những hậu quả phi vật chất khác ảnh hưởng rất nghiêm trọng đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng là hậu quả rất nghiêm trọng; nếu do khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật dẫn đến truy cứu trách nhiệm hình sự người không có tội hoặc không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội mà tội phạm đó là tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng hoặc gây ra những hậu quả phi vật chất khác ảnh hưởng đặc biệt nghiêm trọng đến uy tín của cơ quan tiến hành tố tụng là hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.13

 

 

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 307 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ ba năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới ba năm tù những không được dưới một năm tù. Nếu thuộc gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

3. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Đối với tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật, nhà làm luật quy định ba loại hình phạt bổ sung, đó là cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Do đó khi áp dụng cần phải căn cứ vào chủ thể của tội phạm và hành vi cụ thể của người phạm tội để áp dụng loại hình phạt nào cho phù hợp như: Cấm phiên dịch đối với người phiên dịch gian dối, cấm đảm nhiệm chức vụ giám định viên đối với người giám định kết luận giam định sai sự thật, cấm đảm nhiệm chức vụ mà người phạm tội đang đảm nhiệm và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật. v.v... Ví dụ: Lê Văn M là cán bộ kiểm hoá thuộc Cục hải quan thành phố H được cơ quan tiến hành tố tụng xác định là người làm chứng trong vụ án hình sự đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cung cấp tài liệu sai sự thật cho cơ quan tiến hành tố tụng, nên cơ quan tiến hành tố tụng đã không truy cứu trách nhiệm hình sự người có tội, thì Lê Văn M có thể bị Toà án áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ kiểm hoá trong ngành Hải quan.

 

Nếu có chức vụ, quyền hạn nhưng không lợi dụng chức vụ, quyền hạn để khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật thì không bị cấm đảm nhiệm chức vụ. Ví dụ: Trịnh Quang T là Bí thư Đoàn thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh phường L nhìn thấy Phạm Văn H đâm anh Vũ Xuân K nhưng cố ý khai với cơ quan tiến hành tố tụng là H không phải là người đâm anh Vũ Xuân K mà người đâm anh Vũ Xuân K là Ngô Tất N đã bỏ trốn đâm anh K, nên cơ quan tiến hành tố tụng đã không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Phạm Văn H, thì Toà án không áp dụng hình phạt cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định đối với Trịnh Quang T. 

 

16. TỘI TỪ CHỐI KHAI BÁO, TỪ CHỐI KẾT LUẬN GIÁM ĐỊNH HOẶC TỪ CHỐI CUNG CẤP TÀI LIỆU 

 

Điều 308. Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu 

 

1. Người nào từ chối khai báo nếu không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 22 của Bộ luật này hoặc trốn tránh việc khai báo, việc kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm .

2. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định nghĩa: Từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu là hành vi trốn tránh việc khai báo, trốn tránh việc kết luận giám định, từ chối cung cấp tài liệu mà không có lý do chính đáng mặc dù đã có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.

 

Tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu là tội phạm đã được quy định tại khoản Điều 242 Bộ luật hình sự năm 1985. So với Điều 242 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 308 Bộ luật hình sự năm 1999 có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Về cấu tạo, tuy Điều 308 Bộ luật hình sự được cấu tạo thành 2 khoản nhưng chỉ có khoản 1 là quy định về tội phạm còn khoản 2 là hình phạt bổ sung mà Bộ luật hình sự năm 1985 quy định tại Điều 248. 

 

Về cấu thành cơ bản của tội phạm này, nhà làm luật bổ sung một dấu hiệu bắt buộc và nếu không thoả mãn dấu hiệu này thì chưa cấu thành tội phạm, đó là: nếu hành vi từ chối khai báo mà thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ luật hình sự14 thì chưa cấu thành tội từ chối khai báo, đồng thời bổ sung hành vi từ chối cung cấp tài liệu cũng bị coi là hành vi phạm tội mà Điều 242 Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này vừa là chủ thể đặc biệt, vừa không phải là chủ thể đặc biệt.

 

Là chủ thể đặc biệt nếu người phạm tội trốn tránh việc kết luận giám định.

 

Không phải là chủ thể đặc biệt nếu người phạm tội từ chối khai báo hoặc trốn tránh việc khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu.

 

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì hành vi từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng; các đương sự trong vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động, thì chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Từ chối giám định chỉ có thể là người giám định, nhưng từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu thì có thể là người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong các vụ án hình sự; các đương sự, người làm chứng, người có trách nhiệm trong các cơ quan, tổ chức trong các vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động.

 

Theo quy định của điều luật thì một số người (ông, bà , cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội) chỉ là chủ thể của tội phạm này nếu họ từ chối khai báo về các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Khách thể của tội phạm này cũng tương tự như khách thể của các tội phạm quy định tại các Điều 304, 305, 306, 307 Bộ luật hình sự, nó xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và của công dân làm cho việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án bị kéo dài, bị sai lệch, thậm chí làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm; gây thiệt hại nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho các đương sự. v.v…

 

Đối tượng tác động của tội phạm này là những yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Những yêu cầu này có thể bằng miệng hoặc có thể bằng một quyết định. Xét về bản chất thì hành vi của người phạm tội phạm này là hành vi không chấp hành, nhưng nội dung của việc không chấp hành là yêu cầu khai báo, yêu cầu giám định, yêu cầu cung cấp.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Tương tự như đối với tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật, căn cứ vào chủ thể mà người phạm tội có thể thực hiện một hoặc một số hành vi khách quan như sau:

 

Đối với người giám định đã trốn tránh việc kết luận giám định như: cáo bệnh, lấy cớ đi công tác, đi nước ngoài hoặc tạo ra những nguyên cớ để không phải thực hiện việc giám định theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng. Thực tiễn điều tra, truy tố, xét xử cho thấy nếu người giám định từ chối giám định dù là với lý do được coi là không chính đáng thì cơ quan tiến hành tố tụng cũng không làm khó dễ đối với họ mà yêu cầu cử người khác thực hiện việc giám định, nên thực tế cũng chưa truy cứu trách nhiệm hình sự trường hợp nào mà người giám định từ chối giám định mà không có lý do chính đáng. Nếu có việc từ chối giám định mà gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng thì cùng lắm cũng chỉ xử lý hành chính hoặc xử lý kỷ luật. Tuy nhiên, về lý thuyết nếu hành vi từ chối giám định của người giám định mà gây khó khăn cho các cơ quan tiến hành tố tụng dẫn đến việc không khởi tố được vụ án hoặc không kết luật, truy tố hoặc không xét xử được thì người giám định vẫn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối kết luật giám định.

 

Đối với những người khác như: người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng trong các vụ án hình sự; các đương sự, người làm chứng, người có trách nhiệm trong các cơ quan, tổ chức trong các vụ án dân sự, kinh tế, hành chính, lao động…đã từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu, mặc dù có yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng.

 

Đối với những người này, tuỳ thuộc vào tư cách tham gia tố tụng trong vụ án mà họ thực hiện một trong các hành vi: từ chối khai báo, trốn tránh việc khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu.

 

Hành vi từ chối khai báo là hành vi có thể là im lặng (không hành động), nhưng cũng có thể bằng lời nói, bằng những biểu hiện khước từ việc khai báo về những tình tiết của vụ án. Tài liệu mà người có trách nhiệm phải cung cấp theo yêu cầu của cơ quan tiến hành tố tụng bao gồm các giấy tờ, đồ vật liên quan đến việc xác định sự thật của vụ án. Nếu từ chối khai báo mà người từ chối đã có những hành vi che giấu tội phạm thì hành vi từ chối khai báo chỉ là một thủ đoạn của hành vi che giấu tội phạm thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự.

 

Hành vi từ chối cung cấp tài liệu là hành vi của người có trách nhiệm trong các cơ quan, tổ chức hoặc của cá nhân đang lưu giữ tài liệu có liên quan đến việc chứng minh sự thật vụ án mà cố tình không giao nộp cho cơ quan tiến hành tố tụng. Hiện nay tình trạng từ chối cung cấp tài liệu đối với một số người có trách nhiệm trong các cơ quan tổ chức xảy ra khá phổ biến, họ lấy lý do đó là tài liệu mật hoặc theo quy định của ngành; mặt khác Nhà nước cũng chưa có quy định hoặc hướng dẫn việc cung cấp tài liệu cho các cơ quan tiến hành tố tụng được thực hiện như thế nào, nên việc xác định hành vi từ chối cung cấp tài liệu có thuộc trường hợp là tội phạm hay không gặp nhiều khó khăn. Chúng tôi cho rằng, đã đến lúc Nhà nước cùng với các cơ quan tiến hành tố tụng cần có những quy định cụ thể về việc cung cấp tài liệu cho cơ quan tiến hành tố tụng của các cơ quan, tổ chức và công dân để bảo đảm việc xác định sự thật vụ án được dễ dàng. Khi xác định hành vi từ chối cung cấp tài liệu cần phân biệt với hành vi che giấu tội phạm quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự. Nếu tài liệu mà người phạm tội từ chối cung cấp là vật chứng của vụ án mà các tài liệu đó là các dấu vết, tang vật của tội phạm thì hành vi từ chối cung cấp tài liệu là hành vi che giấu tội phạm thuộc trường hợp quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự; nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự thì người có hành vi từ chối cung cấp đó mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội từ chối cung cấp tài liệu.

 

Khi xác định tội danh, tuỳ thuộc vào hành vi cụ thể của người phạm tội mà định tội là từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu. Nếu người phạm tội chỉ có hành vi từ chối khai báo thì định tội là “từ chối khai báo”, nếu người phạm tội chỉ thực hiện hành vi từ chối kết luận giám định thì định tội là “ từ chối giám định”, nếu người phạm tội chỉ thực hiện hành vi từ chối cung cấp tài liệu thì chỉ định tội là “từ chối cung cấp tài liệu” mà không định tôị danh như điều luật quy định “từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu”, vì định tội như vậy cũng tức là chưa biết là phạm tội gì. Nếu người phạm tội thực hiện hai hoặc cả ba hành vi mà điều luật quy định thì tuỳ trường hợp mà định tội “ từ chối khai báo và từ chối cung cấp tài liệu” hoặc “từ chối khai báo, từ chối giám định và từ chối cung cấp tài liêu”. Tuy nhiên, trên thực tế thì một người chỉ có thể thực hiện cả hai hành vi từ chối khai báo và hành vi từ chối cung cấp tài liệu, chứ rất ít trường hợp vừa từ chối giám định lại và từ chối khai báo hoặc từ chối cung cấp tài liệu.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả của hành vi từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Nếu hành vi từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì tuỳ trường hợp mà người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt nặng hơn người phạm tội chưa gây ra hậu quả.

 

Tuy nhiên, không phải bất cứ hành vi từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu nào cũng là hành vi phạm tội mà chỉ coi là hành vi phạm tội nếu hành vi từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu gây ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án, nếu hành vi từ chói khai báo hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật không làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án thì không coi là hành vi phạm tội. Mà tuỳ trường hợp người có hành vi đó có thể bị xử lý hành chính hoặc xử lý kỷ luật theo quy định của pháp luật.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu, ngoài hành vi khách quan, nhà làm luật còn quy định dấu hiệu khách quan là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành, đó là: hành vi từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu phải nếu không có lý do chính đáng thì mới cấu thành tội phạm. Đây là dấu hiệu bắt buộc nhưng lại là dấu hiệu khó xác định nhất, bởi lẽ khi một người từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu họ thường đưa ra những lý do mà họ cho đó là  chính đáng. Vì vậy, các cơ quan tiến hành tố tụng cần phải chứng minh để xác định lý do mà người phạm tội đưa ra có chính đáng hay không, nếu chứng minh lý do mà người phạm tội đưa ra là không chính đáng thì hành vi từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu mới cấu thành tội phạm. Muốn xác định lý do không chính đáng thì chỉ có cách là xác định lý do được coi là chính đáng, nếu không thuộc trường hợp có lý do chính đáng thì dó là không chính đáng. Có thể coi là có lý do chính đáng nếu: người có nghĩa vụ phải khai báo, phải kết luận giám định, phải cung cấp tài liệu nhưng vì trở ngại khách quan như: thiên tai, địch hoạ, nhu cầu chiến đấu, phục vụ chiến đấu, ốm đau, tai nạn phải năm viện, phải đi công tác nước ngoài hoặc công tác vùng sâu, vùng xa… mà không thể có mặt đẻ khai báo, để cung cấp tài liệu hoặc để thực hiện việc giám định. Người từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu hoặc từ chối giám định, có thể đưa ra lý do, còn cơ quan tiến hành tố tụng phải chứng minh và kết luận lý do đó có chính đáng hay không.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý. Dấu hiệu này cũng được nhà làm luật quy định ngay trong cấu thành, đó là: “từ chối”. Không ai từ chối một điều gì mà lại do vô ý cả. Tuy nhiên, sự cố ý ở đây mang tính rõ nét hơn, người phạm tội không chỉ cố ý không khai báo, không giám định hoặc không cung cấp tài liệu mà còn nhận thức được hậu quả của hành vi của mình, nếu không khai báo, không cung cấp tài liệu, không giám định thì cơ quan tiến hành tố tụng sẽ khó có thể xác định sự thật vụ án.

 

Việc từ chối khai báo, từ chối giám định, từ chối cung cấp tài liệu có thể vì những động cơ khác nhau, nhưng dù động cơ như thế nào thì đó cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc mà chỉ có thể là tình tiết để xem xét khi quyết định hình phạt. Nếu động cơ của người phạm tội lại là dấu hiệu cấu thành một tội phạm độc lập thì ngoài tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu, người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng. Ví dụ: Một bác sĩ nhận tiền của bị cáo để từ chối cung cấp bệnh án của người bị hại cho cơ quan tiến hành tố tụng thì người bác sĩ này ngoài tội từ chối cung cấp tài liệu, còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

Điều luật chỉ quy định một khoản, một khung hình phạt từ cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến một năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến một năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Đối với tội phạm này, chính sách hình sự của Nhà nước ta cũng chủ yếu lấy giáo dục là chính, chỉ truy cứu trách nhiệm hình sự đối với những người vì động cơ vụ lợi; đối với những người vì nể nang hoặc là những người thân thích với người tham gia tố tụng nhưng không thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 22 Bộ luật hình sự mà từ chối khai báo, từ chối giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu thì chủ yếu giáo dục để họ nhận ra sai phạm; nếu họ còn tái phạm thì mới truy cứu trách nhiệm hình sự. Vì vậy, khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 308 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt cảnh cáo hoặc cải tạo không giam giữ. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị áp dụng hình phạt tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể được hưởng án treo. Đối với người phạm tội quy định tại khoản 1 của điều luật nói chung không nên áp dụng hình phạt tù giam.

 

2. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Đối với tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu, nhà làm luật cũng quy định ba loại hình phạt bổ sung, đó là : cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Do đó khi áp dụng cần phải căn cứ vào chủ thể của tội phạm và hành vi cụ thể của người phạm tội để áp dụng loại hình phạt nào cho phù hợp như: cấm đảm nhiệm chức vụ giám định viên đối với người từ chối giám định, cấm đảm nhiệm chức vụ mà người phạm tội đang đảm nhiệm và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu sai sự thật. v.v...

 

 

 

17. TỘI MUA CHUỘC HOẶC CƯỠNG ÉP NGƯỜI KHÁC KHAI BÁO GIAN DỐI, CUNG CẤP TÀI LIỆU SAI SỰ THẬT 

 

Điều 309. Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật 

 

1. Người nào mua chuộc hoặc cưỡng ép người làm chứng, người bị hại khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, người giám định kết luận gian dối, người phiên dịch dịch xuyên tạc, thì  bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến  ba năm .

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn nguy hiểm khác;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

 

Định Nghĩa: Mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật là hành vi dùng tiền hoặc lợi ích vật chất hoặc dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác để buộc người làm chứng, người bị hại khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, người giám định kết luận gian dối, người phiên dịch dịch xuyên tạc.

 

Tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật là tội phạm đã được quy định tại khoản Điều 243 Bộ luật hình sự năm 1985. So với Điều 243 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 309 Bộ luật hình sự năm 1999 có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Về cấu tạo, Điều 243 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định một khung hình phạt, còn Điều 309 Bộ luật hình sự được cấu tạo thành 2 khoản, khoản 2 là cấu thành tăng nặng.

 

Về các yếu tố cấu thành tội phạm này vẫn không có gì thay đổi. Tuy nhiên, tên gọi của tội danh có sự hoán vị hành vi (cung cấp tài liệu sai sự thật, khai báo gian dối thành khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật) nhưng không làm cho nội dung của tội phạm thay đổi.

 

Về hình phạt, ngoài việc bổ sung một khung hình phạt quy định tại khoản 2 của điều luật từ hai năm đến bảy năm tù thì khoản 1 của điều luật mức hình phạt cải tạo không giam giữ được sửa đổi từ một năm lên ba năm.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này tuy không phải là chủ thể đặc biệt, bất cứ ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm này nếu họ đến một độ tuổi quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.

 

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này vì tội phạm này không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Nếu người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn trong các cơ quan tiến hành tố tụng mua chuộc hoặc cưỡng ép buộc người bị thẩm vấn phải khai sai sự thật, thì tuỳ trường hợp mà người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội dùng nhục hình hoặc tội bức cung quy định tại Điều 298 hoặc 299 Bộ luật hình sự.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Khách thể của tội phạm này cũng tương tự như khách thể của các tội phạm quy định tại các Điều 304, 305, 306, 307, 308 Bộ luật hình sự, nó xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và của công dân làm cho việc điều tra, truy tố, xét xử vụ án bị kéo dài, bị sai lệch, thậm chí làm oan người vô tội hoặc bỏ lọt tội phạm; gây thiệt hại nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng cho các đương sự. v.v…

 

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là những người bị mua chuộc, bị cưỡng ép khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật. Những người này có thể là người làm chứng, người bị hại, người giám định hoặc người phiên dịch. Người phạm tội tác động đến những người này để thông qua họ xâm phạm đến hoạt động đúng đắn của cơ quan tiến hành tố tụng. Nếu những người bị mua chuộc lại là người có chức vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để khai báo gian dối, từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu, từ chối giám định hoặc dịch xuyên tác thì tuỳ trường hợp họ có hể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nhận hối lộ hoặc tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ. Đối với người bị cưỡng ép bằng vũ lực mà bị gây thiệt hại về thể chất hoặc thinh thần thì tuỳ trường hợp họ có thể là người bị hại trong vụ án, nếu như họ không còn cách nào khác buộc phải khai báo gian dối, từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu, từ chối giám định hoặc dịch sai.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Người phạm tội có thể thực hiện hành vi mua chuộc hoặc hành vi cưỡng ép người khác.

 

Mua chuộc là dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để lôi kéo người khác làm một việc theo ý muốn của người mua chuộc. Mua chuộc người khác khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật là dùng tiền, tài sản hoặc lợi ích vật chất khác để lôi kéo người làm chứng, người bị hại khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, người giám định kết luận gian dối, người phiên dịch dịch xuyên tạc.

 

Cưỡng ép là dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác nhằm buộc người làm chứng, người bị hại, người giám định hoặc người phiên dịch phải khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, kết luận gian dối hoặc dịch xuyên tạc. Hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lức hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác cũng tương tự như hành vi quy định trong các tội cướp, cưỡng đoạt tài sản, chỉ khác ở chỗ, đối với cướp, cưỡng đoạt tài sản người phạm tội thực hiện hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác là nhằm chiếm đoạt tài sản, còn ở tội phạm này người phạm tội dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác là nhằm để người làm chứng, người bị hại, người giám định hoặc người phiên dịch phải khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, kết luận gian dối hoặc dịch xuyên tạc.

 

Nếu người phạm tội dùng vũ lực mà gây thương tích hoặc gây chết người thì tuỳ trường hợp người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc tội giết người. Tuy nhiên, nếu người phạm tội đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người thì có thể không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự hình sự về tội cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật nữa, mà chỉ coi động cơ của tội cố ý gây thương tích hoặc tội giết người.

 

Đối với trường hợp người phạm tội dùng thủ đoạn khác không phải là thủ đoạn nguy hiểm thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 1 của điều luật; néu người phạm tội dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lức hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác thì thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật.

 

Khi xác định tội danh, tuỳ thuộc vào hành vi cụ thể của người phạm tội mà định tội là “mua chuộc người khác khai báo gian dối”, tội “mua chuộc người khác cung cấp tài liệu sai sự thật”, tội “cưỡng ép người khác cung cấp tài liệu sai sự thật” hoặc tội “cưỡng ép người khác khai báo gian dối”. Nếu người phạm tội chỉ có hành vi mua chuộc người khác khai báo gian dối thì định tội là “mua chuộc người khác khai báo gian dối”, nếu người phạm tội chỉ thực hiện hành vi cưỡng ép người khác cung cấp tài liệu sai sự thật thì định tội là “cưỡng ép người khác cung cấp tài liệu sai sự thật”, mà không định tôị danh như điều luật quy định “mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật”, vì định tội như vậy cũng tức là chưa biết là phạm tội gì. Nếu người phạm tội thực hiện hai, ba hoặc cả bốn hành vi mà điều luật quy định thì tuỳ trường hợp mà định tội cho phù hợp nếu người phạm tội thực hiện từ hai hành vi thì không dùng từ hoặc mà dùng từ và. Ví dụ: “mua chuộc người khác khai báo gian dối và cung cấp tài liệu sai sự thật” hoặc tội “mua chuộc người khác khai báo gian dối và cưỡng ép người khác cung cấp tài liệu sai sự thật”.v.v…

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả của hành vi mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì tuỳ trường hợp mà người phạm tội có thể bị áp dụng hình phạt nặng hơn người phạm tội chưa gây ra hậu quả.

 

Tuy nhiên, cũng như đối với tội từ chối khai báo, từ chối kết luận giám định hoặc từ chối cung cấp tài liệu, không phải hành vi mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật nào cũng là hành vi phạm tội mà chỉ coi là hành vi phạm tội nếu hành vi mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật gây ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án, nếu hành vi mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật không làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án thì không coi là hành vi phạm tội theo quy định tại Điều 309 Bộ luật hình sự. Nếu hành vi mua chuộc, cưỡng ép người khác cấu thành một tội độc lập thì người có hành vi mua chuộc hoặc cưỡng ép bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng như: dùng tiền, lợi ích vật chất khác để mua chuộc người có chức vụ, quyền hạn để người này từ chối khai báo, từ chối cung cấp tài liệu thì người có hành vi mua chuộc bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ theo Điều 289 Bộ luật hình sự; nếu dùng vũ lực mà làm cho người khác bị gây thương tích thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích theo Điều 104 Bộ luật hình sự; nếu gây chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người theo Điều 93 Bộ luật hình sự.  

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, ngoài hành vi khách quan, cần phải xác định lời khai của người bị mua chuộc, cưỡng ép có phải là gian dối hay không; tài liệu mà người bị mua chuộc hoặc bị cưỡng ép cung cấp có phải là tài liệu sai sự thật hay không? Nếu người bị mua chuộc, bị cưỡng ép khai báo không gian dối, tài liệu mà họ cung cấp không phải là tài liệu sai sự thật hoặc người bị mua chuộc, cưỡng ép không khai báo hoặc không cung cấp tài liệu sai sự thật thì về nguyên tắc, người phạm tội đã thực hiện hết hành vi khách quan nhưng chưa đạt được mục đích nên tuỳ trường hợp người có hành vi mua chuộc hoặc cưỡng ép vẫn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật (ở giai đoạn phạm tội chưa đạt). Tuy nhiên, nếu hành vi mua chuộc hoặc cưỡng ép cấu thành tội phạm khác thì người phạm tội chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm tương ứng đó, mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật.

 

Việc xác định thế nào là lời khai gian dối và tài liệu sai sự thật chúng tôi đã phân tích ở tội khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật quy định tại Điều  307 Bộ luật hình sự.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý. Bản thân hành vi mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác đã thể hiện sự cố ý của người  thực hiện hành vi này. Không ai mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác làm một việc gì lại không có động cơ mục đích.

 

Người phạm tội có thể vì động cơ khác nhau nhưng đều có chung một mục đích là nhằm làm cho người bị mua chuộc, bị cưỡng ép phải khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật mà mình mong muốn.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 309 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 309 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 309 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc được áp dụng mức hình phạt thấp nhất là ba thang tù. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể được hưởng án treo.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 309 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật nhà làm luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, đó là: Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn nguy hiểm khác; lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

 

a. Dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn nguy hiểm khác

 

Có ý kiến cho rằng, nhà làm luật đã quy định hành vi cướng ép người khác khái báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật là cấu thành cơ bản (khoản 1 của điều luật), mà còn quy định hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng các thủ đoạn nguy hiểm khác là yếu tố định khung hình phạt quy định tại khoản 2 của điều luật là không chính xác, vì cưỡng ép là dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác nhằm buộc người làm chứng, người bị hại, người giám định hoặc người phiên dịch phải khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật, kết luận gian dối hoặc dịch xuyên tạc. Vậy còn có trường hợp cưỡng ép nào mà không dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác mà vẫn làm cho người bị cưỡng ép sợ phải khái báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật nữa không ?

 

Nói chung, hành vi cưỡng ép là dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác, nhưng vẫn có thể có trường hợp cưỡng ép mà không dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác. Ví dụ: A có bức ảnh chụp B làm tình với chị C, nên A yêu cầu B phải khai báo gian dối về tình tiết của vụ án và ra điều kiện: nếu B không đồng ý thì A sẽ công bố bức ảnh chụp cảnh B làm tình với C. Vì bị A khống chế nên B buộc phải khai báo gian dối theo hướng có lợi cho A.

 

Như vậy, nếu người phạm tội cưỡng ép người làm chứng, người bị hại khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; cưỡng ép người giám định kết luận gian dối; cưỡng ép người phiên dịch dịch xuyên tạc mà không dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác thì thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 của điều luật.

 

Dùng vũ lực là hành vi (hành động) mà người phạm tội đã thực hiện, tác động vào cơ thể của người khác như: Đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm, chém... Hay có thể nói một cách khái quát là hành vi dùng sức mạnh vật chất nhằm buộc người làm chứng, người bị hại khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; người giám định kết luận gian dối; người phiên dịch dịch xuyên tạc. Hành vi này cũng giống như hành vi dùng vũ lực trong tội cướp tài sản. Hành vi dùng vũ lực có thể làm cho nạn nhân bị thương tích, bị tổn hại đến sức khoẻ hoặc bị chết, nhưng cũng có thể chưa gây ra thương tích đáng kể (không có tỷ lệ thương tật). Nếu người phạm tội dùng vũ lực gây tổn hại đến sức khoẻ có tỷ lệ thương tật từ 11% trở lên thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự; nếu người phạm tội dùng vũ lực làm cho người khác chết thì người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người quy định tại Điều 93 Bộ luật hình sự.

 

Đe doạ dùng vũ lực là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe doạ người làm chứng, người bị hại khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật; người giám định kết luận gian dối; người phiên dịch dịch xuyên tạc. Tuy nhiên, đó chỉ là đe doạ, nếu người bị đe doạ không khai báo gian dối, không cung cấp tài liệu sai sự thật, không dịch xuyên tạc thì người phạm tội cũng không dùng vũ lực; nếu sau khi đe doạ người bị đe doạ không làm theo ý muốn của người đe doạ mà người đe doạ dùng vũ lực mà mình đã đe doạ đối với người bị đe doạ thì người phạm tội bị coi là dùng vũ lực.

 

Dùng thủ đoạn nguy hiểm khác là ngoài hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực, người phạm tội đã dùng những thủ đoạn có thể gây nguy hiểm đến tính mạng, sức khoẻ của người bị đe doạ hoặc của người khác như: đốt nhà; cho thuốc độc vào thức ăn, nước uống; chăng dây qua đường nhằm làm cho người khác đi xe đạp, xe máy ngã xe.v.v… Các thủ đoạn nguy hiểm mà người phạm tội sử dụng có thể chưa gây ra nguy hiểm cho người khác, nhưng cũng có thể đã gây ra nguy hiểm; có thể gây ra nguy hiểm cho người mà người phạm tội quan tâm, nhưng cũng có thể gây ra nguy hiểm cho người mà người phạm tội không quan tâm, miễn là người phạm tội đạt được mục đích làm cho người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật hoặc dịch xuyên tạc.

 

b. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn.

 

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mua chuộc, cưỡng ép người khác khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật là hành vi của một người có chức vụ, quyền hạn và họ đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của họ để mua chuộc, cưỡng ép người khác khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật. Nếu họ không có chức vụ, quyền hạn và không lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó thì không thể mua chuộc hoặc cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật được. Thông thường người phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn là để cưỡng ép người khác khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật. Tuy nhiên, cũng có trường hợp người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn để mua chuộc người khác khai báo gian dối hoặc cung cấp tài liệu sai sự thật như: hứa tăng lương trước thời hạn, hứa đề bạt, bổ nhiệm, cho đi học tập, tham quan ở nước ngoài.v.v…

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 309 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trong hai trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù. Nếu thuộc cả hai trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

 

18. TỘI VI PHẠM VIỆC NIÊM PHONG, KÊ BIÊN TÀI SẢN 

 

Điều 310.  Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản 

1. Người nào được giao giữ tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong mà có một trong các hành vi sau đây, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến ba năm:

a) Phá huỷ niêm phong;

b) Tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên;

c) Gây hậu quả nghiêm trọng.

2. Phạm tội gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm

 

Định Nghĩa: Vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản là hành vi phá huỷ niêm phong; tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên của người được giao giữ tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong.

 

Tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản là tội phạm đã được quy định tại khoản Điều 244 Bộ luật hình sự năm 1985. So với Điều 244 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 310 Bộ luật hình sự năm 1999 có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Về cấu tạo, Điều 244 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định một khung hình phạt, còn Điều 310 Bộ luật hình sự được cấu tạo thành 3 khoản: khoản 1 là cấu thành cơ bản, khoản 2 là cấu thành tăng nặng, khoản 3 là hình phạt bổ sung.

 

Về các yếu tố cấu thành tội phạm này, cơ bản vẫn không có gì thay đổi lớn. Tuy nhiên, Điều 310 Bộ luật hình sự năm 1999 bổ sung đối tượng bị niêm phong là vật chứng mà người được giao giữ mà phá huỷ niêm phong; tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại thì cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội vi phạm việc niêm phong tài sản. Ngoài ra, nhà làm luật bổ sung một dấu hiệu là yếu tố định tội đó là : Gây hậu quả nghiêm trọng nhưng không phải là do hành vi phá huỷ niêm phong; tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại, mà là do một hành vi khác. Đây cũng là trường hợp cá biệt khi nhà làm luật quy định các hành vi phạm tội trong đó có hành vi gây hậu quả nghiêm trọng nhưng lại không nói đó là hành vi gì. Có ý kiến cho rằng, việc nhà làm luật quy định một tình tiết là yếu tố định tội thuộc về hậu quả nhưng lại coi đó là hành vi xét về kỹ thuật lập pháp là không khoa học. Hy vọng rằng khi có chủ trương sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự nhà làm luật quan tâm đến ý kiến này.

 

Về hình phạt, so với Điều 244 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 310 Bộ luật hình sự năm 1999, bỏ hình phạt cải tạo không giam giữ, nâng mức hình phạt tù thấp nhất quy định tại khoản 1 lên sáu tháng; quy định thêm một khung hình phạt tại khoản 2 Điều 130 là từ 2 năm đến 7 năm ; đông thời bổ sung hình phạt bổ sung mà Bộ luật hình sự năm 1985 không quy định đối với tội phạm này.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là chủ thể đặc biệt, chỉ những người được giao giữ tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm này, nếu họ đến một độ tuổi quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Nếu không phải là người được giao giữ tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong thì dù họ có hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản cũng không phải là hành vi phạm tội này. Đây cũng là dấu hiệu để các cơ quan tiến hành tố tụng, nhất là khi giao tài sản bị kê biên cho người giữ. Thực tiễn xét xử đã có trường hợp khi Cơ quan điều tra kê biên tài sản nhưng lại không giao cho sở hữu chủ hoặc người quản lý hợp pháp gữi, mà giao cho người khác giữ nên chủ sở hữu đã có hành vi vi phạm nhưng không thể truy cứu người có hành vi vi phạm được. Ví dụ: Nguyễn Anh T bị khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản của Trần Thu H; trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra đã quyết định kê biên nhà xưởng, máy móc của T nhưng lại giao cho Trần Thu H quản lý nên Nguyễn Anh T đã cho người đến phá liêm phong vào tháo gỡ máy móc và các thiết bị có giá trị chuyển đến nơi khác.

 

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới là chủ thể của tội phạm này vì tội phạm này không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Vì vậy, khi giao cho người giữ tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong, cơ quan tiến hành tố tụng không nên giao cho những người chưa đủ 16 tuổi.

 

Những người được giao giữ tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong có thể là chủ sở hữu tài sản, người thân của chủ sở hữu tài sản, người đang chiếm hữu hợp pháp tài sản... Ngoài ra, còn có những người tuy không phải là chủ sở hữu hoặc người chiếm hữu hợp pháp, nhưng họ được cơ quan tiến hành tố tụng giao giữ tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong như: Thủ kho, thủ quỹ của cơ quan, tổ chức; cán bộ quản lý vật chứng của Cơ quan điều tra, cơ quan thi hành án dân sự; cán bộ của cơ quan tiến hành tố tụng trong một số trường hợp tạm thời được giao giữ vật chứng bị niêm phong. Ví dụ: Nguyễn Quốc T và Phạm Thanh B đều là cán bộ điều tra Công an quận H được phân công đến kho vật chứng nhận một gói vàng đã được niêm phong để đưa đi giám định. Sau khi đã nhận gói vàng từ kho vật chứng, T và B bàn bạc phá niêm phong, đánh tráo vàng xấu lấy vàng tốt.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Khách thể của tội phạm này cũng tương tự như khách thể của các tội phạm quy định tại các Điều 304, 305, 306, 307, 308, 309 Bộ luật hình sự, nó xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, đồng thời xâm phạm trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức và của công dân, nó không chỉ gây khó khăn cho việc xác định sự thật của vụ án mà trong một số trường hợp ảnh hưởng nghiêm trọng đến việc khắc phục thiệt hại, bảo đảm việc bồi thường thiệt hại cho người bị hại. Vì việc kê biên tài sản là một biện pháp để thi hành hình phạt bổ sung (tịch thu tài sản hoặc phạt tiền); hoặc thi hành khoản bồi thường thiệt hại cho người bị hại.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này chính là tài sản bị kê biên, bị niêm phong hoặc vật chứng bị niêm phong. Đây cũng là dấu hiệu quan trọng để xác định hành vi phạm tội của người có hành vi vi phạm.

 

Tài sản bị kê biên bao gồm các tài sản là bất động sản như: nhà đất, nhà xưởng, kho bãi, cửa hàng, khách sạn, nhà nghỉ, nhà ở…; tài sản là động sản như: tàu, thuyền, xe, máy móc, thiết bị và các hàng hoá khác… Việc kê biên tài sản phải tuân theo đúng các quy định của pháp luật. Nếu việc kê biên tài sản không đúng pháp luật thì người được giao giữ tài sản bị kê biên có hành vi vi phạm cũng không phải là hành vi phạm tội. Ví dụ: Nguyễn Văn C chỉ bị khởi tố về tội “từ chối khai báo”, nhưng cơ quan điều tra đã kê biên chiếc xe ô tô của C. Khi anh Trần Văn T hỏi C mua chiếc xe ô tô này, thì C nói với anh T là xe ô tô đã bị cơ quan điều tra kê biên không bán được. Sau khi kiểm tra, quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và quyết định kê biên tài sản, anh T giải thích cho C là việc Cơ quan điều tra kê biên chiếc xe ô tô của C là trái pháp luật, vì theo Điều 308 Bộ luật hình sự thì không có quy định hình phạt tiền hoặc hình phạt tịch thu tài sản, C cũng không gây thiệt hại về vật chất cho bất kỳ ai, nếu C có bị kết án về “tội từ chối khai báo” thì C cũng không có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho bất ký ai. Do đó anh T đã giải thích cho C biết là cứ bán xe cho anh không sợ gì cả. Nghe lời anh T, C đã bán chiếc xe ô tô cho anh T. Sau khi bán xe cho anh T, Cơ quan điều tra phát hiện và ra quyết định khởi tố bổ sung đối với C về tội “vi phạm kê biên tài sản” nhưng Viện kiểm sát đã không phê chuẩn quyết định khởi tố bổ sung này vì quyết định kê biên tài sản của Cơ quan điều tra không đúng pháp luật vi phạm Điều 146 Bộ luật tố tụng hình sự.

 

Tài sản bị niêm phong là những tài sản mà theo quy định của pháp luật phải niêm phong. Tài sản bị liêm phong có thể là tài sản đã bị kê biên theo quyết định kê biên của cơ quan tiến hành tố tụng, nhưng có thể là tài sản bị cơ quan tiến hành tố tụng thu giữ. Việc niêm phong tài sản cũng phải theo đúng quy định của pháp luật về niêm phong. Ví dụ: Theo quy định tại Điều 145 Bộ luật tố tụng hình sự thì việc niêm phong tài sản bị thu giữ phải tiễn hành trước mặt chủ đồ vật hoặc đại diện gia đình, đại diện chính quyền và người chứng kiến và phải lập biên bản theo quy định.

 

Vật chứng bị niêm phong là vật được dùng làm công cụ, phương tiện phạm tội; vật mang dấu vết tội phạm, vật là đối tượng của tội phạm cũng như tiền bạc và vật khác có giá trị chứng minh tội phạm và người phạm tội. (Điều 74 Bộ luật tố tụng hình sự). Vật chứng là chứng cứ phải là hiện vật gốc liên quan đến vụ việc. (khoản 3 Điều 83 Bộ luật tố tụng dân sự)

 

Việc thu thập và bảo quản vật chứng trong vụ án hình sự được quy định tại Điều 75 Bộ luật tố tụng hình sự. Đối với vật chứng cần được niêm phong thì phải niêm phong ngay sau khi thu thập. Việc niêm phong, mở niêm phong phải được tiến hành theo quy định của pháp luật và phải lập biên bản để đưa vào hồ sơ vụ án. Việc thu thập và bảo quản vật chứng trong vụ án dân sự, kinh tế, lao động theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Tuy nhiên, đối với vật chứng trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động, Bộ luật tố tụng dân sự không quy định phải liêm phong nên đối với vật chứng là chứng cứ trong các vụ án dân sự, kinh tế, lao động không phải là đối tượng tác động của tội phạm này. 

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Người phạm tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản có thể thực hiện hành vi một trong các hành vi sau:

 

- Phá huỷ niêm phong

 

Tài sản hoặc vật chứng đã được niêm phong theo đúng quy định của pháp luật thì việc mở niêm phong cũng phải thực hiện đúng quy định của pháp luật, không ai được tự ý mở hoặc phá bỏ niêm phong. Phá huỷ niêm phong là hành vi làm cho niêm phong không còn nguyên vẹn như khi được niêm phong. Chỉ cần người phạm tội phá huỷ niêm phong, còn tài sản hoặc vật chứng bị niêm phong có thể còn nguyên vẹn thì người có hành vi phá huỷ niêm phong đã cấu thành tội phạm rồi.

 

Người phá huỷ niêm phong có thể thực hiện bằng nhiều thủ đoạn như: bóc, xé, cậy phá, tháo dỡ làm rách nát bao bì niêm phong; làm đứt cặp chì và những thủ đoạn khác làm cho tài sản hoặc vật chứng đã được niêm phong không còn nguyên vẹn như khi được niêm phong.

 

Vấn đề đặt ra là, nếu tài sản hoặc vật chứng đã được niêm phong, nhưng niêm phong không bị phá huỷ mà vật chứng đó bị tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại, thì người có hành vi đó có phải là hành vi phá huỷ niêm phong hay không ? Có ý kiến cho rằng, nhà làm luật không quy định hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại vật chứng đã được niêm phong là hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm này, nên không thể coi hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại vật chứng đã được niêm phong là hành vi phá huỷ niêm phong được. Nếu người được giao giữ tài sản hoặc vật chứng đã được niêm phong mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại thì tuỳ trường hợp cụ thể mà họ truy cứu trách nhiệm hình sự về một trong các tội thuộc nhóm tội chiếm đoạt hoặc tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (nếu đó là tài sản hoặc vật chứng có giá trị như tài sản). Nhưng có ý kiến cho rằng, người được giao giữ tài sản hoặc vật chứng đã được niêm phong mà có hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại cũng bị coi là hành vi vi phạm niêm phong như trường hợp phá huỷ niêm phong, vì vật chứng thuộc loại phải niêm phong đã được thu thập, bảo quản theo quy định của pháp luật như đối với tài sản bị thu giữ, bị kê biên. Có thể còn có những ý kiến khác nhau về hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản hoặc vật chứng đã được niêm phong, nhưng theo chúng tôi, đây là loại hành vi có tính đặc thù trong hoạt động điều tra, truy tố, xét xử. Người phạm tội xâm phạm đến tài sản hoặc vật chứng đã được niêm phong là xâm phạm đến hoạt động tư pháp. Tài sản hoặc vật chứng đã được niêm phong có thể có giá trị rất lớn nhưng hành vi của người được giao giữ đã tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại là nhằm mục đích cản trở việc điều tra, truy tố, xét xử của cơ quan tiến hành tố tụng, chứ không nhằm mục đích chiếm đoạt hay huỷ hoại tài sản. Do đó, đối với hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản hoặc vật chứng đã được niêm phong chỉ nên coi là hành vi vi phạm niêm phong. Tuy nhiên, họ phải bồi thường thiệt hại nếu do hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản hoặc vật chứng đã được niêm phong theo quy định của pháp luật dân sự.

 

- Tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên

 

Tiêu dùng tài sản bị kê biên là dùng tài sản đã bị kê biên vào việc sinh hoạt hàng ngày như: lúa, gạo đã bị kê biên nhưng vẫn đem xay xát để nấu ăn; phân đạm đã bị kê biên nhưng vẫn đem bón ruộng; vật liệu xây dựng đã bị kê biên nhưng vẫn sử dụng để xây nhà.v.v…

 

Đối với các loại tài sản bị kê biên là loại tài sản nếu đem sử dụng giá trị ít bị thay đổi như: xe đạp, xe máy, mô tô, ô tô các loại; tầu thuyền các loại mà quyết định kê biên chỉ cấm chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu mà không cấm sử dụng thì người được giao giữ tài sản đó vẫn được sử dụng. Tuy nhiên, nếu việc sử dụng đó làm giảm hoặc mất giá trị của tài sản đó thì người được giao tài sản bị kê biên đó vẫn bị coi là vi phạm. Vì vậy, khi kê biên loại tài sản này, cơ quan tiến hành tố tụng cần xem xét tính chất, đặc điểm của từng loại để quyết định việc có cấm hay không cấm việc sử dụng tài sản đó.

 

Chuyển nhượng tài sản bị kê biên là dùng tài sản đã bị kê biên để bán, để đổi, để cho hoặc cho mượn, tức là người được giao giữ bị kê biên đã không thực hiện nghĩa vụ bảo quản, cất giữ mà đem tài sản đó chuyển dịch cho người khác.

 

Đánh tráo tài sản bị kê biên là dùng tài sản cùng loại tương tự như tài sản bị kê biên (thường là tài sản có giá trị thấp hơn tài sản bị kê biên) để đổi lấy tài sản đã bị kê biên.

 

Cất giấu tài sản bị kê biên là đem tài sản đã bị kê biên cất giấu để cơ quan tiến hành tố tụng hoặc cơ quan thi hành án dân không xử lý được tài sản đã bị kê biên, vì tài sản bị kê biên không còn nữa. Thông thường, người có hành vi cất giấu tài sản bị kê biên thường nại ra là bị mất trộm, bị thất lạc…

 

Huỷ hoại tài sản là làm cho tài sản bị kê biên mất hẳn giá trị sử dụng không thể khôi phục lại được và như vậy toàn bộ giá trị tài sản không còn. Ví dụ: Đốt cháy một căn nhà, một chiếc xe ôtô thành tro bụi. Hành vi huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản bị kê biên được thực hiện bằng nhiều phương thức khác nhau tuỳ thuộc vào thủ đoạn mà người phạm tội thực hiện như: Đốt cháy, đập phá, dùng thuốc nổ, dùng chất độc, hoá chất hoặc lợi dụng thiên tai để huỷ hoại tài sản...

 

Trong trường hợp thêm, bớt, sửa đổi, đánh tráo, huỷ, làm hư hỏng vật chứng của vụ án nhằm làm sai lệch hồ sơ vụ án thì phải chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 300 của Bộ luật hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả của hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản vừa là dấu hiệu bắt buộc vừa không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này. Nếu hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên là hành vi phá huỷ niêm phong; hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên thì hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này, nhưng nếu người được giao giữ tài sản không thực hiện các hành vi trên thì hậu quả lại là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này.

 

Trong tất cả các tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự thì đây là trường hợp duy nhất nhà làm luật quy định hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành nhưng lại không quy định hậu quả nghiêm trọng là do hành vi nào gây ra, thậm chí còn quy định hậu quả cũng là hành vi “…mà có một trong các hành vi sau đây…a)…b)…c) Gây hậu quả nghiêm trọng”. Về kỹ thuật lập pháp có thể còn ý kiến khác nhau nhưng cần phải hiểu nhà làm luật quy định hậu quả nghiêm trọng là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này là thiệt hại do hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản (ngoài hành vi phá huỷ niêm phong hoặc hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên sản) gây ra.  Hành vi vi phạm niêm phong, kê biên tài sản gây ra hậu quả nghiêm trọng có thể là do bảo quản không cẩn thận, không đúng với quy định về việc cất giữ, bảo quản nên để cho tài sản hoặc vật chứng bị được niêm phong, tài sản bị kê biên hư hỏng, mất mát gây ảnh hưởng đến việc xác định sự thật vụ án, không bảo đảm việc bồi thường thiệt hại kịp thời cho người bị hại.v.v…

 

Gây hậu quả nghiêm trọng do hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản gây ra là những thiệt hại nghiêm trọng về vật chất và phi vật chất cho xã hội  do vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản gây ra.

 

Do chưa có hướng dẫn về hậu quả nghiêm trọng do hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản gây ra, nhưng qua thực tiễn xét xử loại tội phạm này có thể coi hậu quả nghiêm trọng do hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản gây ra nếu gây khó khăn, trở ngại cho việc giải quyết vụ án hoặc làm cho việc thi hành án gặp khó khăn hoặc không thi hành được.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản, ngoài hành vi khách quan, tuy nhà làm luật không quy định dấu hiệu khách quan nào khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, khi xác định hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản cần nghiên cứu các quy định về việc niêm phong, kê biên tài sản quy định trong các văn bản pháp luật như: Bộ luật tố tụng hình sự, Bộ luật tố tụng dân sự, pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

 

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản thực hiện hành vi phạm tội của mình vừa do cố ý và vừa do vô ý. Đây cũng là một đặc điểm riêng của tội phạm này. Một hành vi phạm tội vừa do có ý, vừa do vô ý, nếu xét về lý luận về tội phạm là không thể chấp nhận. Tuy nhiên, do đặc điểm của tội phạm này, nhà làm luật không chỉ quy định một hành vi khách quan là hành vi phạm tội mà quy định nhiều hành vi khách quan là hành vi phạm tội, trong đó có hành vi người phạm tội có thể thực hiện do vô ý đó là hành vi “gây hậu quả nghiêm trọng”, nói là hành vi “gây hậu quả” thì không chính xác nhưng “gây hậu quả nghiêm trọng” mà nhà làm luật quy định tại điểm c khoản 1 của điều luật là do những hành vi khác không phải là hành vi phá huỷ niêm phong; hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên. Hành vi khác ở đây nhà làm luật không quy định đó là hành vi nào, nhưng có thể hiểu đó chỉ có thể là hành vi vi phạm việc bảo quản, cất giữ nên mới gây ra hậu quả nghiêm trọng, mà đối với hành vi này có hành vi người phạm tội thực hiện do vô ý. Ví dụ: một cán bộ thủ kho vật chứng do thiếu trách nhiệm nên để mất vật chứng, để hỏng vật chứng; người được giao giữ tài sản bị kê biên đã không áp dụng các biện pháp cần thiết nên để tài sản bị kê biên hư hỏng, mất mát…

 

Như vậy, người phạm tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản thực hiện hành vi phạm tội của mình do cố ý trong trường hợp họ thực hiện hành vi phá huỷ niêm phong; hành vi tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên và do vô ý trong trường hợp người phạm tội thực hiện hành vi “gây hậu quả nghiêm trọng”

 

Người phạm tội có thể vì động cơ khác nhau: vì vụ lợi, vì động cơ cá nhân khác, nhưng dù vì động cơ nào thì đó cũng không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm; động cơ phạm tội chỉ có ý nghĩa khi xem xét quyết định hình phạt.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 310 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 310 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ sau tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 310 Bộ luật hình sự, nếu người phạm tội chỉ thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 của điều luật hoặc chỉ gây hậu quả nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt dưới 6 tháng tù nhưng không được dưới ba tháng tù hoặc được chuyển sang hình phạt cải tạo không giam giữ. Nếu người phạm tội thực hiện nhiều hành vi quy định tại khoản 1 của điều luật và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù; nếu có đủ điều kiện quy định tại Điều 60 Bộ luật hình sự thì người phạm tội có thể được hưởng án treo.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 310 Bộ luật hình sự

 

Cũng như đối với một số trường hợp phạm tội khác, khoản 2 của điều luật nhà làm luật quy định hai tình tiết là yếu tố định khung hình phạt, nhưng tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội rất khác nhau, đó là: gây hậu quả rất nghiêm trọng và gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng.

 

Khác với hậu quả nghiêm trọng quy định tại điểm c khoản 1 của điều luật, hậu quả rất nghiêm trọng và hậu quả đặc biệt nghiêm trọng là do hành vi phạm tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản gây ra trong đó có cả hành vi phá huỷ niêm phong hoặc tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu, hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên.  

 

a. Gây hậu quả rất nghiêm trọng

 

Tương tự như trường hợp gây hậu quả nghiêm trọng, chưa có hướng dẫn hậu quả do hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản gây ra như thế nào là hậu quả rất nghiêm trọng. Tuy nhiên, qua thực tiễn xét xử loại tội phạm này có thể coi hậu quả rất nghiêm trọng do hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản gây ra nếu vì phá huỷ niêm phong vật chứng mà cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được tội phạm dẫn đến phải đình chỉ vụ án đối với người phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đối với nhiều người phạm tội nghiêm trọng; do tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên nên dẫn đến không có khả năng thi hành án gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức hoặc công dân từ 150 triệu đến 300 triệu đồng.

 

b. Gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng  nghiêm trọng

 

Đối với trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng do hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản gây ra, việc xác định cũng tương tự như đối với trường hợp gây hậu quả rất nghiêm trọng đã nêu ở trên. Nếu vì phá huỷ niêm phong vật chứng mà cơ quan tiến hành tố tụng không chứng minh được tội phạm dẫn đến phải đình chỉ vụ án đối với người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc đối với nhiều người phạm tội rất nghiêm trọng; hoặc do tiêu dùng, chuyển nhượng, đánh tráo, cất giấu hoặc huỷ hoại tài sản bị kê biên nên dẫn đến không có khả năng thi hành án gây thiệt hại cho cơ quan, tổ chức hoặc công dân từ trên 300 triệu đồng trở lên.

 

Đối với các thiệt hại phi vật chất thì phải căn cứ vào tình hình chính trị, kinh tế, xã hội ở nơi xảy ra vụ án để đánh giá một cách toàn diện mà xác định hậu quả do hành vi vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản gây ra để xác định hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 310 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ tù hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ gây hậu quả rất nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù. Nếu thuộc trường hợp gây hậu quả đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

3. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Đối với tội vi phạm việc niêm phong, kê biên tài sản, nhà làm luật cũng quy định ba loại hình phạt bổ sung, đó là : cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định. Khi áp dụng các loại hình phạt này cần phải căn cứ vào chủ thể của tội phạm và hành vi cụ thể của người phạm tội để áp dụng loại hình phạt nào cho phù hợp. Ví dụ: cấm đảm nhiệm chức vụ đối với người trong các cơ quan tư pháp mà họ được giao bảo quản, trông giữ vật chứng, tài sản bị niêm phong ; cấm làm nghề kinh doanh bất động sản đối với người được giao quản lý tài sản bị kê biên là nhà đất đã chuyển nhượng một cách trái phép nhà đất cho người khác là tài sản đã bị kê biên. v.v...

 

19. TỘI TRỐN KHỎI NƠI GIAM, GIỮ HOẶC TRỐN KHI ĐANG BỊ DẪN GIẢI, ĐANG BỊ XÉT XỬ 

 

Điều 311. Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử 

 

1. Người nào đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử mà bỏ trốn, thì bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm:

a ) Có tổ chức;

b ) Dùng  vũ lực đối với người canh gác hoặc người dẫn giải.

 

Định Nghĩa: Trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử là hành vi bỏ trốn của người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử.

 

Tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử là tội phạm đã được quy định tại khoản Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1985. So với Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 311 Bộ luật hình sự năm 1999 có những sửa đổi, bổ sung như sau:

 

Về tội danh, Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1985 chỉ quy định tội trốn khỏi nơi giam, còn Điều 311 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định cả tội trốn khỏi nơi giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử.

 

Về cấu tạo, Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1985 và Điều 311 Bộ luật hình sự năm 1999 đều được cấu tạo thành 2 khoản: khoản 1 là cấu thành cơ bản, khoản 2 là cấu thành tăng nặng. Tuy nhiên, khoản 2 của điều luật tình tiết dùng bạo lực được thay bằng tình tiết dùng vũ lực.

 

Về các yếu tố cấu thành tội phạm này về cơ bản vẫn không có gì thay đổi lớn. Tuy nhiên, Điều 311 Bộ luật hình sự năm 1999 bổ sung thêm các yếu tố về không gian mà người phạm tội bỏ trốn như: bỏ trốn khỏi nơi giữ, bỏ trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử.

 

Về hình phạt, so với Điều 245 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 311 Bộ luật hình sự năm 1999 không có gì sửa đổi, bổ sung.

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này là cũng là chủ thể đặc biệt, chỉ những người đang bị giam, đang bị giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử mới có thể trở thành chủ thể của tội phạm này, nếu họ đến một độ tuổi quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.

 

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 tuổi là chủ thể của tội phạm này theo khoản 2 của điều luật; những người đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của tội phạm này không phân biệt thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 hay khoản 2 của điều luật.

 

Người đang bị giam là người đang chấp hành hình phạt tù trong các trại giam và người đang bị tạm giam trong các trại tạm giam của Cơ quan điều tra  theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Tuy nhiên, trong thực tế không phải bao giờ người đang chấp hành hình phạt tù đều ở trong các trại giam mà có trường hợp người đang chấp hành hình phạt tù vẫn ở trong trại tạm giam.

 

Đối với người đang bị giam hoặc đang bị tam giam, nhưng đã được thay đổi biện pháp tạm giam bằng biện pháp cưỡng chế khác hoặc đã được người có thẩm quyền ra lệnh tạm đình chỉ thi hành án phạt tù mà sau đó bỏ trốn thì không phải là chủ thể của tội phạm này. Tuy nhiên, nếu họ chưa được ra khỏi trại giam hoặc trại tạm giam vì họ chưa nhận được quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn hoặc quyết định tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù, mà bỏ trốn thì vẫn là chủ thể của tội phạm này. Nếu họ đã nhận được quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn hoặc quyết định tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù, nhưng vì trại giam hoặc trại tạm giam không trả tự do cho họ mà họ bỏ trốn thì họ không phải là chủ thể của tội phạm này. Người có thẩm quyền có hành vi cố ý không trả tự do cho người đã có quyết định thay đổi biện pháp ngăn chặn hoặc quyết định tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn giam, giữ người trái pháp luật theo Điều 303 Bộ luật hình sự.

 

Đối với người đang chấp hành quyết định hành chính trong các cơ sở giáo dục của Nhà nước mà bỏ trốn thì không phải là chủ thể của tội phạm này, mà tuỳ trường hợp người bỏ trốn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không chấp hành các quyết định hành chính của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về việc đưa vào cơ sở giáo dục quy định tại Điều 268 Bộ luật hình sự.

 

Đối với người đang bị tạm giam hoặc đang bị giam nhưng đã có quyết định của cơ quan có thẩm quyền áp dụng biện pháp bắt buộc chữa bệnh trong các cơ sở chữa bệnh mà bỏ trốn cũng không phải là chủ thể của tội phạm này.

 

Đối với người đang bị tạm giam hoặc đang chấp hành hình phạt tù trong các trại giam mà bỏ trốn và bị bắt lại, nhưng sau đó có quyết định đình chỉ vụ án vì không phạm tội; quyết định tạm đình chỉ thi hành hình phạt tù và sau đó được Toà án cho hưởng án treo hoặc áp dụng các hình phạt khác không phải là hình phạt tù thì họ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam nữa.

 

Đối với người bị phạt tử hình mà bỏ trốn và bị bắt lại, về nguyên tắc hành vi của người này là hành vi phạm tội trốn khỏi nơi giam, nhưng nếu hình phạt tử hình đối với họ không bị kháng nghị giám đốc thẩm hoặc tái thẩm hoặc Chủ tịch nước đã bác đơn xin ân giảm án tử hình đối với họ thì không cần thiết phải truy cứu trách nhiệm hình sự họ về tội trốn khỏi nơi giam nữa. 

 

Người đang bị giữ là người đã có quyết định tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự hoặc người bị bắt theo lệnh truy nã, bị bắt do phạm tội quả tang hoặc bị bắt theo lệnh bắt khẩn cấp. Những người bị giữ theo quyết định hành chính, nếu bỏ trốn thì không phải là chủ thể của tội phạm này, kể cả trường hợp sau khi bị bắt lại họ bị áp dụng biện pháp tạm giữ, tạm giam theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, vì thời điểm họ bỏ trốn họ chưa bị áp dụng biện pháp tạm giữ theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

 

Người đang bị dẫn giải là người đang bị giam, giữ nhưng đang bị dẫn giải từ nơi này đến nới khác (từ trại giam, tại tạm giam, nhà tạm giữ đến trại giam, tại tạm giam, nhà tạm giữ khác hoặc dẫn giải bị can, bị cáo đến phòng xử án để Toà án xét xử…); người bị bắt theo lệnh truy nã, bị bắt do phạm tội quả tang, bị bắt khẩn cấp đang bị dẫn giải về nhà tạm giữ, trại tạm giam.

 

Người đang bị xét xử là bị cáo bị giam hoặc bị tạm giam nhưng đang bị Toà án xét xử tại phòng xử án đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác của lực lượng canh giữ đã bỏ trốn khỏi phòng xử án. Đối với bị cáo không bị tạm giam hoặc bị giam (tại ngoại) đã đến phiên toà nhưng trong quá trình xét xử họ vắng mặt không có lý do thì không phải là chủ thể của tội phạm này.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Khách thể của tội phạm này cũng tương tự như khách thể của các tội phạm quy định tại các Điều 304, 305, 306, 307, 308, 309, 310 Bộ luật hình sự, nó xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.

 

Việc bỏ trốn của người phạm tội trong nhiều trường hợp không chỉ gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng trong việc điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án mà không ít trường hợp vụ án phải tạm đình chỉ hoặc đình chỉ, gây thiệt hại cho lợi ích của Nhà nước, của cơ quan, tổ chức và của công dân.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này mà người phạm tội nhằm vào là sự giám sát của các lực lượng bảo vệ, canh gác, dẫn giải. Người phạm tội có thể lợi dụng sự mất cảnh giác của lực lượng bảo vệ, canh gác, dẫn giải để bỏ trốn, nhưng cũng có thể người phạm tội dùng những thủ đoạn khác như: mua chuộc, khống chế hoặc dùng vũ lực đối với lực lượng bảo vệ, cánh gác, dẫn giải để thực hiện được mục đích của họ là bỏ trốn.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Người phạm tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang dẫn giải, đang bị xét xử thực hiện hành vi “bỏ trốn” với nhiều thủ đoạn khác nhau, có trường hợp công khai nhưng đa số là lén lút đối với người canh giữ hoặc người dẫn giải. Bỏ trốn là thoát khỏi sự quản lý của người canh giữ hoặc người dẫn giải.

 

Người đang bị giam trong các trại gam (trại cải tạo) bỏ trốn là trốn tránh việc chấp hành hình phạt tù. Hành vi bỏ trốn này có trường hợp được tổ chức chặt chẽ với quy mô lớn, kèm theo hành vi bỏ trốn có thể người phạm tội còn thực hiện các hành vi phạm tội khác như: chống người thi hành công vụ; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ; giết người; huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản…Những người đang chấp hành hình phạt tù trong các trại giam thường lợi dụng vào việc mất cảnh giác của cán bộ quản giáo trong khi lao động cải tạo để bỏ trốn, nhất là những nơi hẻo lánh, xa khu dân cư. Đây là điều kiện tuận lợi nhất để người đang chấp hành hình phạt tù bỏ trốn.

 

Người đang bị tạm giam, tạm giữ bỏ trốn là trốn tránh khỏi bị truy cứu trách nhiệm hình sự của cơ quan tiến hành tố tụng đối với họ. Nếu đang bị tạm giam đã bị kết án mà bỏ trốn là trốn tránh việc chấp hành hình phạt tù hoặc hình phạt tử hình. Hành vi bỏ trốn này, người phạm tội chủ yếu lợi dụng việc được ra khỏi buồng giam, buồng tạm giữ như: trong khi đang bị hỏi cung, người phạm tội xin phép cán bộ điều tra đi đại tiện, tiểu tiện rồi bỏ trốn; giả vờ ốm để được đưa đi bệnh viện rồi bỏ trốn; lợi dụng được nằm điều trị tại bệnh viện rồi bỏ trốn; lợi dụng khi thực nghiệm điều tra để bỏ trốn. Ngoài ra, người phạm tội còn có Thẩm tra viên đoạn đào tường, cắt song sắt, phá khoá (cùm) chân, để thoát ra ngoài phòng giam.

 

Người đang bị dẫn giải bỏ trốn là trốn việc chấp hành hình phạt tù hoặc hình phạt tử hình, hoặc trốn sự truy cứu trách nhiệm hình sự. Hành vi bỏ trốn này thường được thực hiện bằng thủ đoạn lợi dụng sự mất cảnh giác, thiếu trách nhiệm của lực lượng dẫn giải hoặc người phạm tội dùng thủ đoạn mua chuộc, khống chế, dùng vũ lực đối với lực lượng dẫn giải để tẩu thoát.

 

Người đang bị xét xử bỏ trốn là lợi dụng lúc Toà án đang xét xử (xét xử sơ thẩm hoặc phúc tẩm) để bỏ trốn. Hành vi bỏ trốn tại phiên toà thường là của bị cáo bị giam hoặc bị tạm giam nhưng cũng có trường hợp những người bị giam hoặc bị tạm giam có mặt tại phiên toà chỉ là người làm chứng hoặc là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án khác. Tại phiên toà do có nhiều người tam dự, bị cáo lại không bị khoá tay, nhất là lúc Hội đồng xét xử nghỉ giải lao hoặc trong thời gian nghị án, nên đã lợi dụng sự thiếu cảnh giác của lực lượng canh giữ hoặc mua chuộc người canh giữ để bỏ trốn.

 

Được coi là tội phạm hoàn thành từ khi người phạm tội đã thoát khỏi sự giám sát của người canh giữ, người dẫn giải. Trong trường hợp người phạm tội đã tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện để thực hiện viẹc bỏ trốn mà bị phát hiện thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “bỏ trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang dẫn giải, đang bị xét xử” ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội, nếu thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 của Điều 311 Bộ luật hình sự, vì khoản 2 Điều 311 là tội phạm rất nghiêm trọng mà theo quy định tại Điều 17 Bộ luật hình sự thì người chuẩn bị phạm tội rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Nếu người phạm tội đã bắt tay vào việc thiệt hại thủ đoạn để bỏ trốn như: đã đào tường, đã trèo tường, đã ra khỏi buồng giam nhưng chưa ra khỏi trại giam, đang phá khoá (còng) tay hoặc chân…nhưng chưa trốn được và bị lực lượng canh giữ, dẫn giải phát hiện thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “bỏ trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang dẫn giải, đang bị xét xử” ở giai đoạn chưa đạt. Theo quy định tại Điều 18 Bộ luật hình sự thì người phạm tội chưa đạt phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm chưa đạt. 

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả của hành vi bỏ trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang dẫn giải, đang bị xét xử không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội phạm này, mặc dù trong nhiều trường hợp hành vi bỏ trốn của người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử có thể gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, trong đó có những thiệt hại người bỏ trốn phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về một tội phạm khác ngoài tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử, nhưng cũng có những hậu quả không dẫn đến việc phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người bỏ trốn như: làm cho phiên toà phải hoãn vì không có bị cáo mà việc xét xử vắng mặt không được; làm cho vụ án phải tạm đình chỉ.v.v… Vì vậy, tuy không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này nhưng nếu do bỏ trốn mà gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội bị áp dụng tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội bỏ trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang dẫn giải, đang bị xét xử , tuy nhà làm luật không quy định dấu hiệu khách quan nào khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Tuy nhiên, khi xác định hành vi bỏ trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang dẫn giải, đang bị xét xử cần nghiên cứu các quy định của Bộ luật tố tụng hình sự và các văn bản hướng dẫn của Chính phủ, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an về giam, giữ, dẫn giải và xét xử.

 

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội bỏ trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang dẫn giải, đang bị xét xử thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý (cố ý trực tiếp).

 

Mục đích chung của người phạm tội là trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật đối với hành vi phạm tội do mình thực hiện; người phạm tội có thể vì nhiều động cơ khác nhau như: bỏ trốn để về trả thù người đã tố cáo mình, bỏ trốn về thăm bố, mẹ, vợ, chồng hoặc con; bỏ trốn để tiếp tục phạm tội khác; bỏ trốn để gặp lại đồng bọn giải quyết việc ăn chia không sòng phẳng; bỏ trốn để đòi nợ; bỏ trốn để thanh lý xong các hợp đồng kinh tế.v.v…

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 311 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 311 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ sau tháng đến năm năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 311 Bộ luật hình sự, không chỉ cân nhắc đến tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi bỏ trốn, mà còn phải cân nhắc đến tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội mà người đó bị khởi tố bắt tạm giam, tạm giữ hoặc bị kết án; nhân thân người bị giam giữ. Ví dụ: người phạm tội giết người, cướp tài sản mà bỏ trốn thì tính chất, mức độ nguy hiểm hơn trường hợp người phạm tội cố ý gây thương tích; người đã có nhiều tiền án, tiền sự mà bỏ trốn nguy hiểm hơn người phạm tội lần đầu; người phạm tội bị kết án tử hình chưa thi hành án bỏ trốn nguy hiểm hơn người phạm tội bị kết án tù có thời hạn. Ngoài các yếu tố trên, nếu người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt dưới 6 tháng tù nhưng không được dưới ba tháng tù. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến năm năm tù.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 311 Bộ luật hình sự

 

a.  Có tổ chức

 

Trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử có tổ chức là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa những người cùng bỏ trốn hoặc giữa người bỏ trốn với người không bị giam, giữ, không bị dẫn giải hoặc không bị xét xử, dưới sự chỉ huy của người cầm đầu.

 

Trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử có tổ chức thường được chuẩn bị rất chu đáo, có trường hợp được chuẩn bị hàng năm, hàng vài năm; có trường hợp có sự móc nối với người không bị giam, giữ; có trường hợp móc nối với chính cán bộ canh gác, bảo vệ, thậm chí với cán bộ giám thị, quản giáo… Người cầm đầu, chỉ huy việc bỏ trốn có thể là người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử, nhưng cũng có thể là người khác. Tuy nhiên, đối với người thực hành thì bao giỡ cũng là người bỏ trốn.

 

Nếu việc tổ chức trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử mà không có ai bỏ trốn vì trở ngại khách quan, thì tất cả những người tham gia vào việc tổ chức trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử đều phạm tội tuỳ từng trường hợp cụ thể mà xác định ở giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoặc phạm tội chưa đạt.

 

Nếu người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử tự ý nửa chừng chấm dứt việc bỏ trốn thì tất cả những người đồng phạm được miễn trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử. (tội định phạm). Nếu hành vi đã thực hiện của những người đồng phạm cấu thành một tội phạm khác thì người đó bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đó. Ví dụ: Bùi Quang T, Vũ Khắc X và Phạm Xuân K đã dùng tiền hối lộ cán bộ quản giáo để bỏ trốn khỏi nơi giam, nhưng đến phút trót T đã từ bỏ ý định bỏ trốn, nhưng X và K vẫn thực hiện việc bỏ trốn và bị bắt lại. T được miễn trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam, nhưng vẫn bi truy cứu trách nhiệm hình sự về tội đưa hối lộ.

 

Trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử có tổ chức với quy mô càng lớn thì tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội càng cao, người bỏ trốn là người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc bị kết án tử hình thì mức hình phạt đối với người phạm tội phải càng nặng.

 

b. Dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người dẫn giải

 

Trong qúa trình thực hiện hành vi bỏ trốn của mình, người phạm tội có thể bị người canh gác, người dẫn giải phát hiện bắt giữ hoặc người bỏ trốn đề phòng người canh gác phát hiện nên người phạm tội đã dùng vũ lực đối với họ nhằm thực hiện hành vi bỏ trốn trót lọt.

 

Hành vi dùng vũ lực của người bỏ trốn đối với người canh gác hoặc người dẫn giải cũng giống hành vi dùng vũ lực trong các tội khác như: đâm, chém, đấm, đá, bắn, đốt cháy, tạt axit, xịt hơi cay, hơi ngạt hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người canh gác hoặc người dẫn giải. Hành vi dùng vũ lực của người phạm tội (người bỏ trốn) có thể làm cho người canh giữ hoặc người dẫn giải bị tê liệt, nhưng cũng có thể không làm cho người canh giữ hoặc người dẫn giải bị tê liệt thì người có hành vi đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 311 Bộ luật hình sự với tình tiết “dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người dẫn giải”

 

Khi áp dụng tình tình tiết này, cần chú ý:

 

- Chỉ cần người phạm tội đã dùng vũ lực đối với người canh giữ, dẫn giải là đã bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật, mà không cần hành vi dùng vũ lực phải gây ra thương tích hoặc tổn hại cho sức khoẻ người canh giữ, dẫn giải. Tuy nhiên, nếu người phạm tội gây thương tích cho người canh giữ, dẫn giải có tỷ lệ thương tật dưới 11% thì cũng chỉ bị áp dụng khoản 2 của điều luật về tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử, mà không bị truy cứu thêm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác theo Điều 104 Bộ luật hình sự.

 

- Hành vi dùng vũ lực đối với người canh giữ, dẫn giải về bản chất đó là hành vi chống người thi hành công vụ, nhưng người thực hiện hành vi lại là người trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử, nênngười phạm tội không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chống người thi hành công vụ mà chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử.

 

- Nếu hành vi dùng vũ lực không phải đối với người canh gác hoặc người dẫn giải mà đối với người khác thì người bỏ trốn không bị áp dụng điểm b khoản 2 Điều 311 Bộ luật hình sự, mà tuỳ trường hợp hành vi vũ lực của người bỏ trốn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tương ứng với hành vi dùng vũ lực của người bỏ trốn như : tội giết người, tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại sức khoẻ cho người khác, tội cướp tài sản. v.v... Ví dụ: Lê Hồng Ch. là phạm nhân đang thi hành án phạt tù ở trại cải tạo Gia Trung. Lợi dụng cán bộ canh gác mất cảnh giác, Ch đã bỏ trốn. Trên đường bỏ trốn, Ch gặp một người dân tộc Banar đi làm rẫy có tên là KHưl, Ch đã dùng đoạn cây đánh trọng thương anh KHưl và chiếm đoạt bộ quần áo của anh để mặc và bỏ lại bộ quần áo tù. Sau khi tỉnh lại, anh KHưl đã đi báo chính quyền và lực lượng truy bắt dã bắt được Lê Hồng Ch. Trong trường hợp này, Lê Hồng Ch bị truy truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam theo quy định tại khoản 1 Điều 311 và tội cướp tài sản theo Điều 133 Bộ luật hình sự.  

 

- Nếu hành vi dùng vũ lực của người bỏ trốn đối với người canh gác hoặc  người dẫn giải cấu thành một tội phạm khác, thì người bỏ trốn vừa bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm b khoản 2 Điều 311 Bộ luật hình sự, vừa bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác. Ví dụ: Đào Đình B trên đường bị dẫn giải từ trại tạm giam đến phòng xử án để xét xử theo lệnh trích xuất của Toà án, B đã xin với cán bộ dẫn giải mở còng để đi đại tiện. Khi cán bộ dẫn giải vừa mở còng cho B, thì B đã tấn công người dẫn giải rồi cướp súng bắn bị thương nặng một chiến sĩ cảnh sát tư pháp có tỷ lệ thương tật 45%. Trong trường hợp này, ngoài tội trốn khi đang bị dẫn giải theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 311 Bộ luật hình sự, Đào Đình B còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt vũ khí quân dụng quy định tại Điều 230 Bộ luật hình sự và tội cố ý gây thương tích quy định tại Điều 104 Bộ luật hình sự. 

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 311 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ ba năm đến mười năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trong hai tình tiết định khung hình phạt, hành vi dùng vũ lực không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới ba năm tù. Nếu thuộc cả hai tình tiết định khung hình phạt, hành vi dùng vũ lực bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm khác và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười năm tù.

 

20. TỘI ĐÁNH THÁO NGƯỜI BỊ GIAM, GIỮ, NGƯỜI ĐANG BỊ DẪN GIẢI, NGƯỜI ĐANG BỊ XÉT XỬ  

 

Điều 312.  Tội đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử  

 

1. Người nào đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử, nếu không thuộc trường hợp quy định tại Điều 90 của Bộ luật này, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

2. Phạm tội thuộc một trong những trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm :

a)  Có tổ chức;

b) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

c) Dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người dẫn giải;

d) Đánh tháo người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc người bị kết án tử hình;

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

3. Người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Định Nghĩa: Đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử là hành vi dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực hoặc dùng thủ đoạn khác đối với người canh giữ, người dẫn giải nhằm giải thoát cho người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử.

 

Đánh tháo khác với đánh tráo. Đánh tráo là dùng người khác không phải là người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử, để thay thế người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử. Đây cũng là hình thức giải thoát cho người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử nhưng không thuộc trường hợp quy định tại Điều 312 Bộ luật hình sự.

 

Hiện nay Bộ luật hình sự chưa quy định hành vi đánh tráo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử là hành vi phạm tội độc lập, mà tuỳ trường hợp cụ thể mà người có hành vi đánh tráo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam, giữ, trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử với vai trò đồng phạm hoặc che giấu tội phạm.

 

Tuy nhiên, cũng có trường hợp có việc đánh tráo người phạm tội bằng một người khác nhưng hành vi đánh tráo này không thể truy cứu trách nhiệm hình sự về tội trốn khỏi nơi giam, giữ, trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử với vai trò đồng phạm hoặc tội che giấu tội phạm được, vì không thoả mãn dấu hiệu của tội phạm. Ví dụ: Vũ Văn H bị Toà án cấp sơ thẩm kết án 3 năm tù về tội vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ theo khoản 2 Điều 202 Bộ luật hình sự, nhưng cho hưởng án treo. Sau khi xét xử sơ thẩm, đại diện hợp pháp của người bị hại kháng cáo yêu cầu Toà án cấp phúc thẩm phạt tù giam đối với Vũ Văn H. Khi nhận được giấy triệu tập của Toà án cấp phúc thẩm, Vũ Văn H lo sợ, nếu Toà án cấp phúc thẩm chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp người bị hại thì phải bị đi tù và có thể bị bắt ngay tại phiên toà phúc thẩm. H đem chuyện kể cho em trai mình là Vũ Văn T, do H và T tương đối giống nhau, nên T bàn với H là để T thay H đến tham gia phiên toà phúc thẩm với tư cách là bị cáo. Đúng như dự đoán của H, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã chấp nhận kháng cáo của đại diện hợp người bị hại không cho H được hưởng án treo và bị bắt ngay tại phiên toà phúc thẩm. Trên đường từ phòng xử án về trại tạm giam, T mới nói thật với cán bộ dẫn giải mình không phải là Vũ Văn H mà là em của Vũ Văn H. Sau khi xác minh, đúng là người bị bắt đưa về trại giam không phải là Vũ Văn H. Tuy hành vi của T đã giúp anh trai mình là H thoát khỏi bị bắt, nhưng vì H không có mặt tại phiên toà phúc thẩm nên không thể nói H bỏ trốn khỏi nơi đang bị xét xử được. Hành vi của T nếu bị coi là hành vi che giấu tội phạm thì tội phạm mà H thực hiện không phải là một trong các tội được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự nên T cũng không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm. Do đó có ý kiến cho rằng, nhà làm luật cần quy định hành vi đánh tráo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử là hành vi phạm tội và quy định ngay trong cùng một điều luật với hành vi đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử. Theo chúng tôi, ý kiến này là hợp lý, hy vọng khi có chủ trương sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 nhà làm luật quan tâm xem xét đến ý kiến này.

 

Tội đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử là tội phạm mới mà Bộ luật hình sự năm 1985 chưa quy định. Do yêu cầu của thực tiễn đấu tranh phòng chống loại hành vi này nên nhà làm luật quy định hành vi đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử là hành vi tội phạm. Tuy nhiên, từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực cũng chưa có trường hợp nào truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm này nhưng không vì thế mà cho rằng việc quy định hành vi phạm tội này là không cần thiết, vì loại hành vi này cũng nguy hiểm như hành vi bỏ trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang dẫn giải, đang bị xét xử, thậm chí còn nguy hiểm hơn, nếu xảy ra việc phá trại giam giải thoát người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng hoặc tội xâm phạm an ninh quốc gia, hoặc giải thoát người bị kết án tử hình.  

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này không phải là chủ thể đặc biệt, ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm này, nếu họ đến một độ tuổi quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự và không thuộc trường hợp quy định tại Điều 13 Bộ luật hình sự về tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, nếu người phạm tội là người có chức vụ, quyền hạn thì họ phải chịu trách nhiệm hình sự nặng hơn theo quy định tại khoản 2 của điều luật.

 

Theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người đủ 14 tuổi nhưng chưa đủ 16 là chủ thể của tội phạm này theo khoản 2 của điều luật; những người đủ 16 tuổi trở lên là chủ thể của tội phạm này không phân biệt thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 hay khoản 2 của điều luật.

 

Khi xác định chủ thể của tội phạm này cần phân biệt người có hành vi đánh tháo với đối tượng bị đánh tháo là người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử. Người đánh tháo là người không phải là người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử; họ có thể là bạn bè, người thân của người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử hoặc người khác được người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử hoặc bạn bè, người thân của những người này mua chuộc, lôi kéo thực hiện hành vi đánh tháo.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Khách thể của tội phạm này cũng tương tự như khách thể của các tội phạm quy định tại các Điều 304, 305, 306, 307, 308, 309, 310, 311 Bộ luật hình sự, nó xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này mà người phạm tội nhằm vào không phải là sự giám sát của các lực lượng bảo vệ, canh gác, dẫn giải, mà chính là người mà người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử. Thông qua những người này mà người phạm tội xâm phạm đến khách thể.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Người phạm tội đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử có thể thực hiện một trong các hành vi sau:

 

Dùng vũ lực đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử là dùng sức mạnh vật chất tấn công người canh giữ hoặc người dẫn giải làm cho người canh giữ hoặc người dẫn giải mất khả năng kháng cự để giải thoát cho người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử. Hành vi dùng vũ lực này cũng giống như đối với hành vi dùng vũ lực trong các tội phạm khác như: đâm, chém, đấm, đá, bắn, đốt cháy, tạt axit, xịt hơi cay, hơi ngạt, dùng thuốc nổ phá trại giam hoặc dùng thủ đoạn nguy hiểm khác xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người canh gác hoặc người dẫn giải. Hành vi dùng vũ lực của người phạm tội có thể làm cho người canh giữ hoặc người dẫn giải bị tê liệt, nhưng cũng có thể không làm cho người canh giữ hoặc người dẫn giải bị tê liệt. Nếu hành vi dùng vũ lực gây thương tích cho người canh giữ, dẫn giải có tỷ lệ thương tật trên 11% thì bị truy cứu thêm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ người khác theo Điều 104 Bộ luật hình sự; nếu gây chết người thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người; nếu dùng thuốc nổ phá trại giam gây thiệt hại về tài sản có giá trị trên một triệu đồng thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Hành vi dùng vũ lực đối với người canh giữ hoặc người dẫn giải vừa là tình tiết định tội vừa là tình tiết định khung hình phạt theo quy định tại khoản 2 của điều luật.

 

Đe doạ dùng vũ lực để đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử là bằng hành động, lời nói hoặc bằng các thủ đoạn khác đối với người canh giữ hoặc người dẫn giải làm cho những người này sợ không làm hoặc làm không đầy đủ trách nhiệm canh giữ hoặc dẫn giải người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử để người phạm tội giải thoát cho người  đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử. Về phía người canh giữ hoặc dẫn giải vì sợ bị dùng vũ lực mà “đầu hàng” để người phạm tội giải thoát được người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử thì tuỳ trường hợp họ cũng bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hành vi “tha trái pháp luật  người bị giam, giữ”.

 

Dùng thủ đoạn khác để đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử là không dùng vũ lực hoặc đe doạ dùng vũ lực nhưng vẫn đánh tháo được người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử như: gian dối, lén lút làm cho người canh giữ hoặc dẫn giải mất cảnh giác để người phạm tội giải thoát được người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử. Ví dụ: Giả làm cán bộ canh giữ đột nhập vào buồng giam, phá cửa, phá khoá (cùm) tay, chân để giải thoát người đang bị giam; dùng người khác thay thế (đánh tráo) người đang chấp hành hình phạt tù trong khi đang lao động cải tạo ở ngaòi trại giam để giải thoát người bị kết án đang chấp hành hình phạt tù trong trại giam.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả của hành vi đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tuy nhiên, nếu gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo khoản 2 của điều luật.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Đối với tội đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử, ngoài hành vi khách quannhà làm luật không còn quy định một dấu hiệu khách quan nào khác là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành. Mặc dù trong điều văn của điều luật có quy định tình tiết có tính dẫn chiếu là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành, đó là: không thuộc trường hợp quy định tại Điều 90 Bộ luật hình sự, nhưng đó không phải là dấu hiệu khách quan mà là dấu hiệu thuộc mặt chủ chủ quan (mục đích phạm tội)

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý.

 

Người phạm tội có thể vì động cơ khác nhau và cũng có thể có mục đích khác nhau.

 

Nếu người phạm tội đánh tháo người bị giam, người bị dẫn giải nhằm chống chính quyền nhân dân thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “chống phá trại giam” theo Điều 90 Bộ luật hình sự.

 

Đây cũng là dấu hiệu bắt buộc và cũng là dấu hiệu cơ bản để phân biệt hành vi phạm tội đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử quy định tại Điều 312 Bộ luật hình sự với tội chống phá trại giam quy định tại Điều 90 Bộ luật hình sự. Nếu đã thuộc trường hợp quy định tại Điều 90 Bộ luật hình sự thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “chống phá trại giam” mà không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “đánh tháo người đang bị giam, đang bị dẫn giải” quy định tại Điều 312 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, tội chống phá trại giam, chủ thể của tội phạm còn bao gồm cả người đang bị giam, giữ chứ không chỉ có những người không bị giam giữ như tội đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử.

 

Vấn đề đặt ra là, nếu đánh tháo người đang bị giữ, đang bị xét xử nhằm chống chính quyền nhân dân thì có thuộc trường hợp quy định tại Điều 90 Bộ luật hình sự hay không ? Đây là vấn đề về lý luận cũng như thực tiễn xét xử chưa được quan tâm xem xét. Từ khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực, Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, Các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương cũng chưa có giải thích hoặc hướng dẫn. Nếu căn cứ vào điều văn của Điều 90 và Điều 312 Bộ luật hình sự thì thấy: Điều 90 Bộ luật hình sự chỉ quy định hành vi đánh tháo người bị giam, người bị dẫn giải mà không quy định hành vi đánh tráo người đang bị giữ hoặc người đang bị xét xử. Do đó về nguyên tắc không thể buộc người có hành vi đánh tháo người đạng bị giữ, đang bị xét xử nhằm chống lại chính quyền nhân dân về tội “chống phá trại giam”. Lẽ ra, khi nhà làm luật bổ sung Điều 312 Bộ luật hình sự thì đồng thời phải sửa đổi, bổ sung Điều 84 Bộ luật hình sự năm 1985 theo hướng quy định cả hành vi đánh tháo người đang bị giữ hoặc đang bị xét xử cũng là đối tượng của tội “chống phá trại giam” nếu người phạm tội nhằm chống chính quyền nhân dân. Tuy nhiên, nếu được giải thích hoặc hướng dẫn hành vi đánh tháo người đang bị giữ hoặc đang bị xét xử mà người này là người bị giam, bị giữ nhằm chống chính quyền nhân dân cũng là hành vi “chống phá trại giam” thì việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm theo Điều 90 Bộ luật hình sự không có gì vướng mắc.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 312 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 312 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 312 Bộ luật hình sự, Toà án phải cân nhắc đến tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội mà người phạm tội thực hiện. Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội của người có hành vi “đánh tháo” không chỉ phụ thuộc vào thủ đoạn, quy mô của hành vi “đánh tháo”, vào vai trò của người phạm tội…,mà còn phụ thuộc vào tội phạm mà người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử thực hiện, vào nhân thân người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử. Ví dụ: đánh tháo người phạm tội giết người, cướp tài sản thì tính chất, mức độ nghiêm trọng hơn trường hợp đánh tháo người phạm tội cố ý gây thương tích; đánh tháo người phạm tội bị kết án 20 năm tù nguy hiểm hơn đánh tháo người phạm tội bị kết án 5 năm tù.

 

Ngoài các yếu tố trên, nếu người phạm có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt dưới hai năm tù. Nếu người phạm tội có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 312 Bộ luật hình sự

 

a.  Có tổ chức

 

Cũng tương tự như các trường hợp phạm tội có tổ chức khác, đánh tháo người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải, đang bị xét xử có tổ chức là trường hợp có sự cấu kết chặt chẽ giữa giữa những người cùng thực hiện hành vi “đánh tháo” dưới sự chỉ huy của người cầm đầu.

 

Tương tự như trường hợp trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử có tổ chức, đánh tháo người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải, đang bị xét xử có tổ chức thường được chuẩn bị rất chu đáo, có trường hợp được chuẩn bị hàng năm, có sự móc nối giữa những người trong trại giam hoặc với chính cán bộ canh gác, bảo vệ, thậm chí với cán bộ giám thị, quản giáo… Người cầm đầu, chỉ huy việc đánh tháo thường là người không bị giam, giữ nhưng cũng có thể là người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử.

 

Đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử có tổ chức với quy mô càng lớn thì tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội càng cao và mức hình phạt đối với người phạm tội phải càng nặng.

 

b. Lợi dụng chức vụ, quyền hạn

 

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn đẻ đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử là hành vi của một người có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử.

 

Chức vụ, quyền hạn mà người phạm tội có được là do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

 

Mặc dù nhà làm luật không quy định người có chức vụ, quyền hạn có liên quan đến việc giam, giữ, dẫn giải hoặc xét xử nhưng xét về mối quan hệ giữa chức vụ, quyền hạn với hành vi đánh tháo người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải, đang bị xét xử thì thông thường chức vụ, quyền hạn của người phạm tội phải có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến việc giam, giữ, dẫn giải hoặc xét xử. Tuy nhiên, đối với những người có chức vụ, quyền hạn không liên quan đến việc giam, giữ, dẫn giải hoặc xét xử vẫn có thể lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để đánh tráo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử.

 

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử là dùng chức vụ, quyền hạn của mình để tổ chức hoặc tham gia hoặc trực tiếp thực hiện hành vi đánh tháo người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải, đang bị xét xử. Nếu người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để tổ chức hoặc tham gia vào việc tổ chức đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử thì ngoài tình tiết “lợi dụng chức vụ, quyền hạn” người phạm tội còn bị áp dụng tình tiết “phạm tội có tổ chức”.

 

Khi áp dụng tình tiết này, cần phân biệt với trường hợp người có chức vụ, quyền hạn do thiếu trách nhiệm hoặc do vi phạm các quy định về canh gác, dẫn giải để người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử bỏ trốn. Người lợi dụng chức vụ, quyền hạn để đánh tháo người bị giam, giữ, người đang bị dẫn giải, người đang bị xét xử là trực tiếp tham gia vào việc đánh tháo bằng việc lợi dụng chức vụ, quyền hạn (có sự lợi dụng chức vụ, quyền hạn), là đồng phạm hoặc là người thực hành trong vụ án đánh tháo người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải, đang bị xét xử; họ mong muốn đánh tháo được người bị giam, giữ, đang bị dẫn giải, đang bị xét xử.

 

c. Dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc người dẫn giải

 

Trường hợp phạm tội này như đã phân tích ở trên, hành vi dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc dẫn giải vừa là dấu hiệu định tội vừa là dấu hiệu định khung hình phạt. Do đó nếu người phạm tội dùng vũ lực đối với người canh gác hoặc dẫn giải thì bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo điểm c khoản 2 Điều 312 Bộ luật hình sự.

 

d) Đánh tháo người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc người bị kết án tử hình.

 

Đây là trường hợp người bị đánh tráo là người bị két án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc bị kết án tử hình.

 

Người bị kết án là người bị Toà án tuyên bố phạm một tội hoặc một số tội  được quy định tại Bộ luật hình sự bằng một bản án hình sự theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

 

Người bị kết án không chỉ bao gồm người mà bản án của Toà án đã có hiệu lực pháp luật đối với họ mà còn bao gồm cả bản án chưa có hiệu lực pháp luật. Đây là vấn đề về lý luận và thực tiễn còn ý kiến khác nhau. Có ý kiến cho rằng, người bị kết án chỉ bao gồm những người đã bị Toà án tuyên bố phạm một tội hoặc một số tội  được quy định tại Bộ luật hình sự bằng một bản án đã có hiệu lực pháp luật, vì Bộ luật tố tụng hình sự khi dùng thuật ngữ người bị kết án là để chỉ những người trong giai đoạn thi hành án, nên phải hiểu rằng, người bị kết án là người mà bản án hình sự đối với họ phải là bản án đã có hiệu lực pháp luật.

 

Tuy nhiên, nếu chỉ căn cứ vào thuật ngữ “người bị kết án” quy định trong giai đoạn thi hành án hình sự thì ý kiến trên là đúng, nhưng như vậy sẽ không lý giải được trường hợp một người bị Toà án cấp sơ thẩm kết án, và bản án cũng chưa có hiệu lực pháp luật mà họ lại phạm một tội mới thì theo quy định của Bộ luật hình sự họ vẫn bị xem xét tội phạm mà họ đã bị Toà án cấp sơ thẩm kết án để xác định tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm đối với hành vi phạm tội sau. Cũng tương tự như vậy, đối với người được Toà án cấp sơ thẩm cho hưởng án treo, nhưng bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật mà họ phạm tội mới trong thời gian thử thách ngay sau khi tuyên án sơ thẩm và trong thời hạn kháng cáo, kháng nghị thì họ vẫn phải chấp hành hình phạt tù mà Toà án cấp sơ thẩm đã cho họ hưởng án treo. Như vậy, thuật ngữ “người bị kết án” quy định ở đây bao gồm cả người đã bị Toà án kết án mà bản án đó chưa có hiệu lực pháp luật.

 

Người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia là người bị Toà án tuyên bố phạm một tội hoặc một số tội được quy định tại Chương XI Bộ luật hình sự (từ Điều 78 đến Điều 91) bằng một bản án hình sự.

 

Người bị kết án tử hình là người phạm một tội hoặc một số tội quy định tại Bộ luật hình sự và bị Toà án áp dụng hình phạt tử hình. Ví dụ: Trần Văn B bị Toà án nhân dân tỉnh Lai Châu phạt từ hình về tội mua bán trái phép chất ma tuý. Sau khi xét xử sơ thẩm, A kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt, trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm, Nguyễn Văn H, Vũ Văn T đã bàn bạc giải thoát B ra khỏi trại tạm giam để trả ơn B đã cưu mang cả gia đình H và T.

Khi áp dụng tình tiết “đánh tháo người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc người bị kết án tử hình” cần chú ý:

 

- Nếu người bị kết án về tội xâm phạm an ninh quốc gia, nhưng lúc bị đánh tháo đã được Toà án cấp phúc thẩm hoặc Toà án cấp giám đốc thẩm tuyên bố họ phạm một tội khác, không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia thì người phạm tội đánh tháo… không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 312 Bộ luật hình sự nữa. 

 

- Nếu người bị kết án tử hình nhưng lúc bị đánh tháo họ đã được Toà án cấp phúc thẩm hoặc Toà án cấp giám đốc thẩm không kết án tử hình nữa hoặc được Chủ tịch nước ân giảm án tử hình thì người phạm tội đánh tháo… cũng không thuộc trường hợp quy định tại điểm d khoản 2 Điều 312 Bộ luật hình sự nữa. 

 

đ) Gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng.

 

Cũng như đối với một số tội khác quy định trong Bộ luật hình sự nói chung và chương các tội xâm phạm hoạt động tư pháp nói riêng, nhà làm luật quy định tình tiết gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng là yếu tố định khung hình phạt nhưng hầu như các cơ quan tiến hành tố tụng ở Trung ương chưa hướng dẫn, nên thực tiễn xét xử khi cần phải xác định các tình tiết này cơ quan tiến hành tố tụng gặp rất nhiều khó khăn, mà trường hợp đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử, gây hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng chỉ là cá biệt.

 

Nhà làm luật quy định ba tình tiết có tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội  khác nhau trong cùng một khung hình phạt cũng là một vấn đề mà chúng tôi đã đề cập khi bình luận một số tội phạm khác. Tuy nhiên, việc xác định như thế nào là hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử gây ra cần phải căn cứ vào những thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất do hành vi đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử mà xác định hậu quả đó là hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hay đặc biệt nghiêm trọng. Trong khi chưa có hướng dẫn chính thức thì có thể vận dụng các hướng dẫn về tình tiết này trong một số tội phạm khác để xác định hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do hành vi đánh tháo người đang bị giam, giữ, đang bị dẫn giải hoặc đang bị xét xử gây ra.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 312 Bộ luật hình sự, người phạm tội có thể bị phạt tù từ năm năm đến mười hai năm, là tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội, nếu chỉ thuộc một trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 312 Bộ luật hình sự, chỉ gây hậu quả nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới năm năm tù. Nếu thuộc từ hai tình tiết định khung hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 312 Bộ luật hình sự, gây hậu quả rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến mười hai năm tù.

 

3. Hình phạt bổ sung đối với người phạm tội

 

 Ngoài hình phạt chính, người phạm tội còn có thể bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ một năm đến năm năm.

 

Khi áp dụng hình phạt bổ sung đối với người phạm tội này cần chú ý:

 

Mặc dù điều luật không quy định phạm vi áp dụng hình phạt này đối với người phạm tội, nhưng không vì thế mà cho rằng ai là chủ thể của tội phạm này đều có thể áp dụng hình phạt bổ sung, mà chỉ áp dụng hình phạt này đối với người phạm tội là người có chức vụ và lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội thuộc trường hợp quy định tại điểm b khoản 2 Điều 132  Bộ luật hình sự.

 

 

21. TỘI CHE GIẤU TỘI PHẠM

 

Điều 313.  Tội che giấu tội phạm

 

1. Người nào không hứa hẹn trước mà che giấu một trong các tội phạm quy định tại các điều sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc  phạt tù từ sáu tháng đến năm năm:

- Các điều từ Điều 78 đến Điều 91 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

- Điều 93 (tội giết người); Điều 111, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 112 (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 114 (tội cưỡng dâm trẻ em); Điều 116, các khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với trẻ em); Điều 119, khoản 2 (tội mua bán phụ nữ);

- Điều 120 (tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em);

- Điều 133 (tội cướp tài sản); Điều 134 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 138, các khoản 2, 3 và 4 (tội trộm cắp tài sản); Điều 139, các khoản 2, 3 và 4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 140, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điều 143, các khoản 2, 3 và 4 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

- Điều 153, các khoản 3 và 4 (tội buôn lậu); Điều 154, khoản 3 (tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới); Điều 155, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm); Điều 156, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 157 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 158, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 160, các khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 165, các khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 166, các khoản 3 và 4 (tội lập quỹ trái phép); Điều 179, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng); Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả); Điều 181 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều 189, các khoản 2 và 3 (tội huỷ hoại rừng);

- Điều 193 (tội sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 194 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý); Điều 195 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 196, khoản 2 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 197 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 198 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 200 (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 201, các khoản 2, 3 và 4 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác);

- Điều 206, các khoản 2, 3 và 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 221 (tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ); Điều 230 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 231 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 232, các khoản 2, 3 và 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ); Điều 236, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ); Điều 238, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán  trái phép chất cháy, chất độc);

- Điều 256, các khoản 2 và 3 (tội mua dâm người chưa thành niên);

- Điều 278, các khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài sản); Điều 279, các khoản 2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 280, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản); Điều 281, các khoản 2 và 3 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ); Điều 282, các khoản 2 và 3 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 283, các khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi); Điều 284, các khoản 2, 3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 289, các khoản 2, 3 và 4 (tội đưa hối lộ); Điều 290, các khoản 2, 3 và 4 (tội làm môi giới hối lộ);

- Điều 311 khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử);

- Các điều từ Điều 341 đến Điều 344 về các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

2. Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

 

Định Nghĩa: Che giấu tội phạm là hành vi của một người không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện, đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội.

 

Tội che giấu tội phạm đã được quy định tại Điều 246 Bộ luật hình sự năm 1985 và đã được sửa đổi, bổ sung ba lần, vào ngày 12-8-1991, ngày 22-12-1992 và ngày 10-5-1997. Tuy nhiên, về cơ bản so với Điều 246 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999 không có thay đổi lớn, sư khác nhau trong mỗi lần sửa đổi, bổ sung cũng như sự khác nhau giữa Điều 246 Bộ luật hình sự năm 1985 với Điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999 chủ yếu là do các điều luật quy định về các tội phạm mà người phạm tội che giấu có sửa đổi, bổ sung, nên đối tượng (tội phạm mà người phạm tội che giấu) cũng thay đổi cho phù hợp. Còn các yếu tố khác cũng như các tình tiết định tội, định khung hình phạt giữa Điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999 với Điều 246 Bộ luật hình sự năm 1985 không có gì khác. Tuy nhiên, về mức hình phạt cao nhất quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999 là bảy năm, nhẹ hơn so với khoản 2 Điều 246 Bộ luật hình sự năm 1985 là mười năm. 

  

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này tuy không phải là chủ thể đặc biệt, nhưng không phải ai cũng có thể trở thành chủ thể của tội phạm này, mà chỉ những người từ đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này cả khoản 1 và khoản 2 của điều luật không có trường hợp nào là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng, và theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì người đủ 14 tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng, còn người đủ 16 tuổi trở lên mới chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm.

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Khách thể của tội phạm này cũng tương tự như khách thể của các tội phạm quy định tại các Điều 304, 305, 306, 307, 308, 309, 310, 311, 312 Bộ luật hình sự, nó xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này mà người phạm tội nhằm vào có thể là người phạm tội (người mà người phạm tội che giấu), nhưng cũng có thể là các dấu vết, tang vật của tội phạm… Thông qua đối tượng tác động mà người phạm tội xâm phạm đến hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ảnh hưởng đến việc phát hiện, điều tra, chứng minh tội phạm, vâm phạm đén nguyên tắc xử lý: “mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Hành vi che giấu tội phạm khi được thực hiện cũng giống như hành vi che giấu của người giúp sức trong vụ án đồng phạm, chỉ khác nhau ở chỗ hành vi  của người giúp sức là hành vi của người có hứa hẹn trước, còn hành vi che giấu tội phạm thì người che giấu không hứa hẹn trước. Như vậy, trước khi xác định hành vi che giấu tội phạm thì việc đầu tiên là phải xác định họ có hứa hẹn trước với người phạm tội hay không, nếu đã có hứa hẹn trước với người phạm tội mà che giấu người phạm tội; che giấu các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội thì không thuộc trường hợp quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự mà là đồng phạm với người phạm tội về tội phạm mà người phạm tội thực hiện. Ví dụ: A hứa với B là sau khi B giết được C  thì A sẽ cho B mượn xe máy để bỏ trốn.

 

Che giấu là từ ghép của hai từ “che” và “giấu”. Che được hiểu là làm cho kín, khuất, khiến người ta không nhìn thấy, bưng bít, không cho người ta biết. Giấu được hiểu là cất kín, giữ kín. Nói chung từ “che” và từ “giấu” xét về nghĩa thì hai từ nay tương tự như nhau, từ che giấu còn đồng nghĩa với các từ: che chở, che đậy, che mắt, giấu giếm. Nhưng tuỳ trường hợp mà người ta dùng các từ này cho phù hợp với hoàn cảnh xảy ra. Đối với hành vi giúp cho người phạm tội thoát khỏi sự trừng phạt của pháp luật thì dùng từ “che giấu” là phù hợp nhất. Ví dụ: một người giấu một con dao là hung khí gây án là hành vi giấu nhưng giấu là để che đậy hành vi phạm tội của người phạm tội mà mình quan tâm.

 

Để che giấu tội phạm, người phạm tội có thể thực hiện một trong những hành vi sau:

 

Che giấu người phạm tội.

 

Che giấu người phạm tội là biết rõ một người đã thực hiện một tội phạm nhưng đã chứa chấp, nuôi giấu trong nhà mình, tìm địa điểm cho người phạm tội ẩn náu để không bị bắt, giúp đỡ người phạm tội bỏ trốn, giúp người phạm tội  thay hình đổi dạng để tránh sự truy tìm, phát hiện của mọi người hoặc có những hành vi khác che giấu người phạm tội.

 

Che giấu các dấu vết của tội phạm

 

Một tội phạm xảy ra bao giờ cũng để lại các dấu vết, các dấu vết mà tội phạm để lại có ý nghĩa rất quan trọng cho việc chứng minh tội phạm, từ dấu vết mà cơ quan tiến hành tố tụng tìm ra thủ phạm. Các dấu vết của tội phạm cũng rất phong phú, đa dạng tuỳ thuộc vào tội phạm xảy ra. Ví dụ: đối với tội giết người dấu vết để lại ở hiện trường như: vết máu, vân tay, dấu chân…; trên thi thể nạn nhân như: vết bầm tím trên cổ; trên thân thể bị can như: vết cào cấu…; nếu các dấu vết này bị tẩy xoá, bị làm thay đổi, làm mất đi sẽ gây khó khăn cho công tác điểu tra truy tìm thủ phạm. Thông thường, người thực hiện hành vi phạm tội tự mình xoá các dấu vết, nhưng cũng nhiều trường hợp người phạm tội do không kịp xoá các dấu vết nên sau khi phạm tội đã nhờ người khác hoặc tuy không được nhờ nhưng người khác tự mình xoá các dấu vết của tội phạm nhằm che giấu hành vi phạm tội của người đã thực hiện tội phạm đó. Hành vi che giấu các dấu vết nói chung khó bị phát hiện, vì người thực hiện hành vi này thường lợi dụng lúc Cơ quan điều tra khám nghiệm hiện trường, khám nghiệm tử thi, khám nhà, khám nơi làm việc, thu giữ vật chứng… để xoá các dấu vết.

 

 Che giấu tang vật của tội phạm 

 

Tang vật của vụ án là công cụ, phương tiện mà người phạm tội dùng vào việc thực hiện tội phạm. Thuật ngữ “tang vật” là thuật ngữ trước đây được dùng thay cho thuật ngữ vật chứng được quy định trong Bộ luật tố tụng hình sự. Hiện nay trong Bộ luật tố tụng hình sự cũng như các văn bản pháp luật người ta không dùng thuật ngữ “tang vật” nữa. Tuy nhiên, Bộ luật hình sự năm 1999 vẫn dùng thuật ngữ “tang vật” là đối tượng tác động của tội che giấu tội phạm. Vì vậy, cần hiểu “tang vật” của vụ án chính là “vật chứng” của vụ án.

 

Che giấu tang vật là hành vi cất giấu, huỷ hoại hoặc làm biến dạng công cụ, phương tiện mà người phạm tội dùng vào việc thực hiện tội phạm; trong các công cụ, phương tiện dùng vào việc thực hiện tội phạm có những loại là tiền hoặc tài sản như: tiền hoặc tài sản bị cáo chiếm đoạt được, các phương tiện giao thông vận tải mà bị cáo dùng để chuyên chở người phạm tội hoặc chuyên chở hàng phạm pháp… nếu người phạm tội cất giấu, huỷ hoại, tiêu thụ thì cần phân biệt với hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có quy định tại Điều 250 Bộ luật hình sự. Nếu hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nhằm mục đích che giấu tội phạm thì thuộc trường hợp quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự, còn nếu chỉ vì trục lợi bất chính thì thuộc trường hợp quy định tại Điều 250 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do tính chất của hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có nó cũng gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tìm thủ phạm nên trong nhiều trường hợp cũng không dẽ phân biệt giữa hành vi che giấu tội phạm với hành vi chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đây là vấn đề về lý luận cũng thực tiễn xét xử ít được đặt ra, vì thực tiễn xét xử đối với hành vi che giấu tài sản, tiền bạc của người phạm tội đều bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, rất ít trường hợp bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm. Cũng có ý kiến cho rằng, nếu hành vi che giấu tang vật vừa cấu thành tội che giấu tội phạm, vừa cấu thành tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có thì người thực hiện hành vi phải bị truy cứu trách nhiệm hình sự về cả hai tội: tội che giấu tội phạm và tội chứa chấp, tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Quan điểm này chưa được thực tiễn xét xử chấp nhận. Mặt khác, về lý luận cũng còn có điểm chưa chính xác, vì nếu cùng một hành vi đối với cùng một đối tượng thì người thực hiện hành vi chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội nặng nhất, chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về nhiều tội trong trường hợp một hành vi đối với nhiều đối tượng khác nhau hoặc nhiều hành vi khác nhau đối với cùng một đối tượng phạm tội. Ví dụ: A cất giấu một con dao là hung khí mà B sử dụng khi gây án, đồng thời tiêu thụ chiếc xe đạp do B cướp được, thì A mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự về hai tội: tội che giấu tội phạm và tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Trường hợp A biết chiếc xe đạp do B phạm tội cướp tài sản mà có nhưng vẫn mua vì ham rẻ thì A chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, mặc dù hành vi tiêu thụ chiéc xe đạp (tang vật) có gây khó khăn cho việc xác định sự thật của vụ án, nhưng không vì thế mà cho rằng A đã che giấu tội phạm do B thực hiện.

 

Hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội

 

Cũng coi là che giấu tội phạm, nếu một người không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Đây là trường hợp phạm tội phần lớn được quy định tại khoản 2 của điều luật. Tuy nhiên, hành vi cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội không chỉ đối với người có chức vụ, quyền hạn mà còn đối với cả những người khác, trong đó có người thân của người phạm tội. Cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội cũng chính là không muốn cho tội phạm bị phát hiện, xử lý theo pháp luật. Hành vi cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội rất đa dạng như: lợi dụng chức vụ, quyền hạn từ chối cung cấp các tài liệu, sổ sách, giấy tờ có liên quan đến tội phạm; từ chối cung cấp địa chỉ, nơi ở của người phạm tội đang ẩn náu mà mình biết rõ; dùng quyền hành để dụ dỗ, mua chuộc, cướng ép người khác không khai báo, không cung cấp tài liệu, cho cơ quan tiến hành tố tụng. Nếu là mua chuộc, cưỡng ép người khác khai báo gian dối, cung cấp tài liệu sai sự thật thì thuộc trường hợp quy định tại Điều 309 Bộ luật hình sự.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả của hành vi che giấu tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tội phạm hoàn thành từ khi người phạm tội đã thực hiện hành vi che giấu tội phạm, không phụ thuộc vào kết quả của việc che giấu đó có đạt kết quả hay không thì người thực hiện hành vi vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Tuy nhiên, mức độ trách nhiệm có khác nhau, nếu do hành vi che giấu mà việc điều tra, phát hiện, xử lý tội phạm không thực hiện được hoặc phải kéo dài tốn kém tiền bạc hoặc gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác thì người có hành vi che giấu phải chịu trách nhiệm nặng hơn người có hành vi che giấu nhưng cơ quan tiến hành tố tụng vẫn phát hiện, xử lý được tội phạm. Nếu do hành vi che giấu tội phạm mà gây ra hậu quả nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng thì người phạm tội sẽ bị phạt nặng hơn trường hợp chưa gây ra hậu quả trên.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Hành vi che giấu tội phạm tuy là hành vi gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện và xử lý tội phạm, nhưng không phải hành vi che giấu tội phạm nào cũng là hành vi phạm tội, mà chỉ che giấu một số tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự mới là hành vi phạm tội. Khi đặt vấn đề truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi che giấu tội phạm, có ý kiến cho rằng nhà làm luật chỉ nên quy định loại tội phạm mà người phạm tội che giấu mà không cần phải liệt kê tội phạm nào, quy định ở đâu. Ví dụ: che giấu tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Tuy nhiên, sau khi rà soát lại các tội phạm quy định trong Bộ luật hình sự, có những tội tuy là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng do cố ý nhưng nếu có bị che giấu thì cũng không nguy hiểm đáng kể để buộc người có hành vi che giấu phải chịu trách nhiệm hình sự. Ví dụ: che giấu các tội phạm hoạt động tư pháp (trừ tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn đang bị dẫn giải, đang bị xét xử quy định tại khoản 2 Điều 311) thì người có hành vi che giấu không phải là tội phạm, trong đó có nhiều trường hợp là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Trong khi đó có những tội phạm tuy chỉ là tội nghiêm trọng nhưng nếu bị che giấu thì cũng rất nguy hiểm như một số trường hợp quy định tại các tội xâm phạm an ninh quốc gia. Ví dụ: khoản 3 Điều 84 (tội khủng bố); khoản 2 Điều 86 (tội phá hoại việc thực hiện các chính sách kinh tế-xã hội); khoản 2 Điều 87 (tội phá hoại chính sách đoàn kết); khoản 2 Điều 89 (tội phá rối an ninh). Mặt khác, hành vi che giấu một số tội phạm mà nhà làm luật không liệt kê trong điều luật khó xảy ra hoặc nếu có xảy ra thì cũng ít ảnh hưởng đến việc phát hiện, xử lý tội phạm. Vì vậy, nhà làm luật dùng phương pháp liệt kê những tội phạm và nếu ai có hành vi che giấu tội phạm đó thì sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Ngoài các tội xâm phạm an ninh quốc gia (có một số trường hợp là tội phạm nghiêm trọng), còn đối với các tội phạm khác hầu hết là tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Như vậy, chỉ cấu thành tội “che giấu tội phạm” nếu người phạm tội che giấu các tội phạm được liệt kê trong điều luật, còn che giấu các tội phạm không được liệt kê trong điều luật thì không cấu thành tội phạm. Các tội phạm mà nhà làm luật liệt kê trong điều luật là các tội được quy định tại: 

 

- Các điều từ Điều 78 đến Điều 91 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia;

- Điều 93 (tội giết người); Điều 111, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 112 (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 114 (tội cưỡng dâm trẻ em); Điều 116, các khoản 2 và 3 (tội dâm ô đối với trẻ em); Điều 119, khoản 2 (tội mua bán phụ nữ);

- Điều 120 (tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em);

- Điều 133 (tội cướp tài sản); Điều 134 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 138, các khoản 2, 3 và 4 (tội trộm cắp tài sản); Điều 139, các khoản 2, 3 và 4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 140, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điều 143, các khoản 2, 3 và 4 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản);

- Điều 153, các khoản 3 và 4 (tội buôn lậu); Điều 154, khoản 3 (tội vận chuyển trái phép hàng hoá, tiền tệ qua biên giới); Điều 155, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, buôn bán hàng cấm); Điều 156, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả); Điều 157 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 158, các khoản 2 và 3 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi); Điều 160, các khoản 2 và 3 (tội đầu cơ); Điều 165, các khoản 2 và 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 166, các khoản 3 và 4 (tội lập quỹ trái phép); Điều 179, các khoản 2 và 3 (tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng); Điều 180 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả); Điều 181 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác); Điều 189, các khoản 2 và 3 (tội huỷ hoại rừng);

- Điều 193 (tội sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 194 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý); Điều 195 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 196, khoản 2 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán các phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 197 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 198 (tội chứa chấp việc sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 200 (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 201, các khoản 2, 3 và 4 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác);

- Điều 206, các khoản 2, 3 và 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 221 (tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ); Điều 230 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 231 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 232, các khoản 2, 3 và 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ); Điều 236, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ); Điều 238, các khoản 2, 3 và 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán  trái phép chất cháy, chất độc);

- Điều 256, các khoản 2 và 3 (tội mua dâm người chưa thành niên);

- Điều 278, các khoản 2, 3 và 4 (tội tham ô tài sản); Điều 279, các khoản 2, 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 280, các khoản 2, 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản); Điều 281, các khoản 2 và 3 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn trong khi thi hành công vụ); Điều 282, các khoản 2 và 3 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 283, các khoản 2, 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi); Điều 284, các khoản 2, 3 và 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 289, các khoản 2, 3 và 4 (tội đưa hối lộ); Điều 290, các khoản 2, 3 và 4 (tội làm môi giới hối lộ);

- Điều 311 khoản 2 (tội trốn khỏi nơi giam, giữ hoặc trốn khi đang bị dẫn giải, đang bị xét xử);

- Các điều từ Điều 341 đến Điều 344 về các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

 

Mặc dù điều luật quy định rất cụ thể tội phạm mà người phạm tội che giấu, nhưng thực tiễn xét xử không phải lúc nào cũng nhận biết ngay được, vì có nhiều trường hợp phải đánh giá các tình tiết của vụ thì mới xác định được tội phạm mà người đó (người được che giấu) thực hiện thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật, trên cơ sở đó mới xác định được tội phạm đó có được hành vi che giấu có cấu thành tội phạm hay không. Ví dụ: Để xác định A có phạm tội che giấu tội phạm do B thực hiện hay không, thì trước hết phải xác định B phạm tội gì và được quy định tại khoản nào của điều luật. Vì vậy, việc khởi tố đối với người phạm tội che giấu tội phạm bao giờ cũng được tiến hành sau khi khởi tố người đã thực hiện tội phạm mà người phạm tội đã che giấu. Trong một số trường hợp, nếu Cơ quan điều tra chỉ khởi tố bị can về tội danh mà không xác định bị can đó phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật mà đã khởi tố bị can về tội che giấu tội phạm là không đúng. Ví dụ: Cơ quan điều tra khởi tố bị can A về tội mua bán phụ nữ theo Điều 119 (không xác định là khoản nào của Điều 119 mà đã khởi tố bị can B về tội che giấu tội phạm là không đúng vì B chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm nếu A phạm tội mua bán phụ nữ theo khoản 2 Điều 119 Bộ luật hình sự. Do đó, khi khởi tố, truy tố, kết án người phạm tội “che giấu tội phạm” đòi hỏi người tiến hành tố tụng phải xác định trước tội phạm bị che giấu là tội phạm gì, có thuộc trường hợp quy định tại điều luật hay không. Không ít trường hợp, Cơ quan điều tra khởi tố người phạm tội che giấu tội phạm nhưng trong quy định khởi tố vụ án, khởi tố bị can về tội mà người phạm tội che giấu không ghi rõ thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật nên khi xét xử Toà án xác định tội phạm mà người phạm tội đã che giấu không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự nên phải tuyên bố người bị truy tố về tội “che giấu tội phạm” không phạm tội. Ví dụ: Bùi Quốc H đang chấp hành hình phạt tù tại Trại giam đã bỏ trốn. Sau khi trốn thoát, H về nhà Vũ Khắc D là bạn xin được giúp đỡ, D đã cho H ẩn náu tại nhà mình. Qua nguồn tin quần chúng cung cấp, Cơ quan điều tra đã đến nhà D bắt được H theo lệnh truy nã. Cùng với việc khởi tố Bùi Quốc H về tội trốn khỏi nơi giam theo Điều 311 Bộ luật hình sự, Cơ quan điều tra khởi tố Vũ Khắc D về tội che giấu tội phạm theo Điều 313 Bộ luật hình sự. Trong quá trình kiểm sát điều tra, Kiểm sát viên cũng không phát hiện được việc khởi tố Bùi Quốc H và Vũ Khắc D chưa đúng với quy định của Bộ luật tố tụng hình sự, nên đã lập cáo trạng truy tố Bùi Quốc H về tội “trốn khỏi nơi giam” và Vũ Khắc D về tội “che giấu tội phạm”. Tại phiên toà sơ thẩm sau khi xét hỏi, Hội đồng xét xử xác định Bùi Quốc H phạm tội “trốn khỏi nơi giam” thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 311 nên hành vi che giấu tội phạm của Vũ Khắc D không cấu thành tội phạm và tuyên bố Vũ Khắc D không phạm tội.

 

Ngoài tình tiết dẫn chiếu pháp luật (liệt kê các tội phạm mà người phạm tội che giấu) là tình tiết khách quan khác, nếu thiếu nó thì hành vi che giấu tội phạm  chưa cấu thành tội phạm, thì nhà làm luật còn quy định một tình tiết khách quan khác cũng rất quan trọng, đó là: “không hứa hẹn trước”. Nếu hứa hẹn trước thì hành vi che giấu tội phạm không cấu thành tội “che giấu tội phạm” mà là hành vi đồng phạm với người mà mình che giấu. Ví dụ: Trước khi đi trộm cắp, Nguyễn Xuân H ghé qua cửa hàng điện tử của Vũ Thị C nói với C: “em cùng thằng T định tối nay đến nhà mụ M đánh quả, nếu thắng đem về chị bán giúp bọn em nhé !” C nhận lời, Sau khi trộm được một dàn máy VCD, H và T đem đến nhà C nhờ C cất giấu. Hành vi cất giấu tài sản do H và T trộm cắp được không phải là hành vi che giấu tội phạm mà là đòng phạm với H và T về tội trộm cắp tài sản với vai trò giúp sức.

 

Hành vi không hứa hẹn trước về lý luận, người ta gọi là “không hành động” (bất tác vi), nhưng để xác định có đúng là “không hứa hẹn trước” hay không, thì lại phải căn cứ vào các tình tiết của vụ án để loại trừ hành vi có hứa hẹn trước. Nói chung người phạm tội bao giờ cũng nại rằng, không biết người mà mình che giấu là đã thực hiên một tội phạm, chứ đừng nói đến việc có hứa hẹn trước. Do đó phải căn cứ vào các tình tiết khác của vụ án để xác định người thực hiện hành vi che giấu có hứa hẹn trước với người phạm tội hay không.

 

Hành vi không hứa hẹn trước là không hứa hẹn trước khi người phạm tội thực hiện một tội phạm. Nếu người phạm tội đã thực hiện xong tội phạm mà hứa hẹn trước khi thực hiện hành vi che giấu thì cũng không coi là hứa hẹn trước. Ví dụ: Trần Văn T là bạn của Phạm Quang L, T biết L đã phạm tội giết người đang bỏ trốn và có lệnh truy nã của Cơ quan điều tra, T cũng không biết L đang lẩn trốn ở đâu, nhưng khi gặp mẹ của L, mẹ của L nói với T: “nếu có gặp thằng L nhà bác thì cháu giúp đỡ nó, chỗ bạn bè, bác không quên ơn cháu đâu”. Nghe mẹ của L nói vậy, T hứa với mẹ của L là nếu gặp L, T sẽ giúp đỡ. 7 ngày sau, T gặp L ở bến xe, T đã bàn với L trốn vào Đăk Lắk, đồng thời T đưa cho L 5 triệu đồng và một số đồ dùng cá nhân. Hành vi của T tuy có hứa hẹn trước nhưng hành vi hứa hẹn trước của T xảy ra sau khi L đã thực hiện tội phạm, nên không coi là hứa hẹn trước, để buộc T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội giết người với vai trò giúp sức trong vụ án có đồng phạm, mà hành vi của T chỉ là hành vi che giấu tội phạm.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội che giấu tội phạm thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là tạo điều kiện giúp cho người phạm tội trốn tránh được sự trừng phạt của pháp luật nhưng vẫn thực hiện.

 

Về nhận thức, người phạm tội phải là người biết rõ tội phạm mà mình che giấu đã được thực hiện và nói chung là đã biết ai là người thực hiện tội phạm đó. Tuy nhiên, có trường hợp người phạm tội chưa biết rõ ai là người thực hiện tội phạm nhưng vẫn có những hành vi che giấu các dấu vết, tang vật của tội phạm. Nếu người phạm tội chưa biết rõ tội phạm đã xảy ra và cũng không có hứa hẹn trước mà có những hành vi có tính chất che giấu thì cũng không bị coi là che giấu tội phạm. Ví dụ: Phạm Đức S hiếp và giết cháu Vũ Thị H rồi vứt xác xuống sông để phi tang. Sau khi phạm tội, để đánh lạc hướng điều tra, S gọi điện cho ông nội của cháu H là cháu H đã bị bắt cóc, muốn đưa cháu về thì đem 100 triệu đến điểm hẹn để đón cháu. Gia đình cháu H tưởng thật nên rất lo lắng, lúc đầu không dám báo với Công an nhưng vì nhiều lần S gọi điện thay đổi địa điểm nên việc giao tiền của gia đính cháu H không thực hiện được. Sau hơn 1 tháng không đón được cháu H về, gia đình cháu H quyết định trình báo Công an. Nhận được nguồn tin của quần chúng cho biết trong nhà bà Nguyễn Thị M có một cháu gái giống cháu H, Cơ quan điều tra đã phối hợp với chính quyền địa phương đến kiểm tra hành chính nhà bà M. Khi lực lượng Công an đến nhà bà M thì bà M cương quyết không mở cửa vì bà khẳng định trong nhà bà không có một cháu gái nào cả; bà M còn cho biết hôm qua có mấy đứa trẻ có cả trai và gái chơi trước cửa nhà bà, có một cháu gái vào nhà bà xin nước uống nhưng sau đó đã đi. Do thái độ bất hợp tác của bà M nên Cơ quan điều tra đã khởi tố bà M về tội che giấu tội phạm. Sau khi vụ án được phát hiện, Cơ quan điều tra đã ra quyết định đình chỉ vụ án đối với bà Nguyễn Thị M vì không có sự việc phạm tội. Trong trường hợp này, không có tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt xảy ra trên thực tế, mà chỉ có tội phạm hiếp dâm và giết người xảy ra, bà M cũng không biết có vụ bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản xảy ra, nên hành vi của bà M không phải là hành vi che giấu tội phạm.

 

Người phạm tội có thể biết tội phạm đã xảy ra là tội gì, người thực hiện tội phạm đó là ai, quá trình diễn biến vụ án…, nhưng không nhất thiết người phạm tội phải biết diễn biến chi tiết, cụ thể về hành vi phạm tội, về người phạm tội, về các tình tiết khác có liên quan đến vụ án, mà chỉ cần biết có tội phạm xảy ra mà che giấu người phạm tội, cất giấu vật chứng, tiêu huỷ hoặc làm biến dạng dấu vết, vật chứng của vụ án với mục đích nhằm che giấu tội phạm là thoả mãn dấu hiệu về chủ quan của tội phạm.

 

Người phạm tội có thể vì động cơ khác nhau, nhưng chỉ có một mục đích là nhằm che giấu tội phạm. Như vậy, che giấu tội phạm vừa là hành vi, vừa mục đích của người phạm tội, cho dù tội phạm đó là tội xâm phạm an ninh quốc gia hay tội phạm thường. Do đó, người phạm tội nếu không hứa hẹn trước mà che giấu tội xâm phạm an ninh quốc gia và nhằm chống chính quyền nhân dân cũng chỉ bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội “che giấu tội phạm” chứ không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội xâm phạm an ninh quốc gia với người phạm tội.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ sáu tháng đến năm năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 313 Bộ luật hình sự, Toà án phải cân nhắc đến tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi che giấu tội phạm. Tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi che giấu tội phạm phụ thuộc chủ vào người mà người phạm tội che giấu; nếu che giấu người phạm tội xâm phạm an ninh quốc gia sẽ nghiêm trọng hơn che giấu người phạm tội trộm cắp tài sản; che giấu người phạm tội đặc biệt nghiêm trọng nguy hiểm hơn che giấu người phạm tội rất nghiêm trọng.

 

Ngoài các yếu tố trên, nếu người phạm có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt cải tạo không giam giữ hoặc được áp dụng hình phạt tù dưới 6 tháng, nhưng không được dưới 3 tháng. Nếu người phạm tội che giấu tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến năm năm tù.

 

 

2. Phạm tội thuộc các trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 313 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật quy định một trường hợp phạm tội đó là: Phạm tội trong trường hợp lợi dụng chức vụ, quyền hạn cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội,

 

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội là hành vi của một người có chức vụ, quyền hạn và đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó để cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có những hành vi khác bao che người phạm tội.

 

Chức vụ, quyền hạn mà người phạm tội có được là do bổ nhiệm, do bầu cử, do hợp đồng hoặc do một hình thức khác, có hưởng lương hoặc không hưởng lương, được giao thực hiện một công vụ nhất định và có quyền hạn nhất định trong khi thực hiện công vụ.

 

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để cản trở việc phát hiện tội phạm là trường hợp đã biết có tội phạm xảy ra nhưng chưa biết người phạm tội là ai hoặc tuy đã biết ai là người thực hiện tội phạm nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để tổ chức, tham gia hoặc trực tiếp thực hiện hành vi cản trở việc phát hiện tội phạm. Ví dụ: Đỗ Xuân Đ là giám đốc Công ty xây dựng X, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố vụ án tham ô xảy ra tại Công ty xây dựng X, khởi tố bị can đối với Ngô Thị L là kê toán công ty về tội tham ô tài sản. Cơ quan điều tra đã nhiều lần triệu tập Bùi Văn D là cán bộ vật tư của công ty để làm rõ một số tình tiết có liên quan đến hành vi tham ô của L. Do có quan hệ tình cảm với L, nên với tư cách là giám đốc, Đõ Xuân Đ đã phân công D đi công tác xa, làm cho Cơ quan điều tra rất khó khăn trong việc chứng minh hành vi tham ô tài sản của Ngô Thị L và hành vi liên quan của D.

 

Lợi dụng chức vụ, quyền hạn để bao che người phạm tội là đã biết ai là người phạm tội nhưng đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để tổ chức, tham gia hoặc trực tiếp thực hiện hành vi bao che người phạm tội. Ví dụ: Hồ Anh T là Phó chủ tịch huyện đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình xác nhận cho Vũ Đức H phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý là con của Liệt sĩ. Do có xác nhận H là con Liệt sĩ, nên Toà án chỉ phạt Vũ Đức H tù chung thân. Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, và trước khi Hội đồng nhân dân chuẩn bị bầu Hồ Anh T làm Chủ tịch huyện thì có đơn tố cáo hành vi bao che của T. Cơ quan chức năng đã xác minh và kết luận Vũ Đức H không phải là con Liệt sĩ và hành vi bao che người phạm tội của Hồ Anh T bị phát hiện.

 

Trong nhiều trường hợp người có chức vụ, quyền hạn lợi dụng chức vụ, quyền hạn vừa có hành vi cản trở việc phát hiện tội phạm vừa có những hành vi bao che người phạm tội, mà không thể tách bạch đâu là hành vi cản trở, còn đâu là hành vi bao che. Vì vậy, khi áp dụng tình tiết phạm tội này, cơ quan tiến hành tố tụng cần xác định đầy đủ các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn của người phạm tội, hành vi nào là hành vi cản trở việc phát hiện tội phạm, hành vi nào là hành vi bao che cho người phạm tội. Có thể hành vi cản trở việc điều tra tội phạm đối với người này lại là hành vi bao che cho người khác hoặc ngược lại.

 

Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 của điều luật, thì người phạm tội bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm, là tội phạm nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối, nếu người phạm tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có hành vi khác bao che người phạm tội không phải là tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự phạt dưới hai năm tù. Nếu lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình cản trở việc phát hiện tội phạm hoặc có hành vi khác bao che người phạm tội là tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến bảy năm tù.

 

22. TỘI KHÔNG TỐ GIÁC TỘI PHẠM

 

Điều 314. Tội không tố giác tội phạm 

 

1. Người nào biết rõ một trong các tội phạm được quy định tại Điều 313 của Bộ luật này đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác, thì bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ ba tháng đến ba năm.

2. Người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại khoản 1 Điều này.

3. Người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

 

Định Nghĩa: Không tố giác tội phạm là hành vi của một người biết rõ một  tội phạm đang được chuẩn bị, đang hoặc đã được thực hiện mà không tố giác với cơ quan có thẩm quyền.

 

Tội không tố giác tội phạm đã được quy định tại Điều 247 Bộ luật hình sự năm 1985 và cũng như tội che giấu tội phạm đã được sửa đổi, bổ sung ba lần, vào ngày 12-8-1991, ngày 22-12-1992 và ngày 10-5-1997. So với Điều 247 Bộ luật hình sự năm 1985 thì Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999 có thay đổi lớn, không chỉ về bố cục, cách hành văn mà về nội dung các dấu hiệu của tội phạm này cũng được sửa đổi, bổ sung cho phù hợp với truyền thống, đạo đức của dân tộc Việt Nam.

 

Trước hết về bố cục, Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999 nhà làm luật cơ cấu thành ba khoản nhưng khác với các tội phạm khác ở chỗ khoản 1 là cấu thành cơ bản và cũng là cấu thành có khung hình phạt nặng nhất, nhưng không phải là cấu thành tăng nặng, vì nó không chứa đựng các tình tiết tăng nặng là yếu tố định khung hình phạt mà chỉ là các dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội phạm; khoản 2 của điều luật là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với một số người trong một số trường hợp; khoản 3 của điều luật là cấu thành giảm nhẹ nhưng không có khung hình phạt mà là trường hợp được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miến hình phạt.

 

Một vấn đề rất mới của tội phạm này so với Điều 247 Bộ luật hình sự năm 1985, đó là: đối với người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng. Nhà làm luật loại trừ trách nhiệm hình sự đối với những người thân thích của người phạm tội về hành vi không tố giác tội phạm (trừ các tội xâm phạm an ninh quốc gia và các tội phạm đặc biệt nghiêm trọng) là thừa kế truyền thống pháp luật của ông cha ta. Bộ luật Hồng Đức năm 1483 (Quốc triều hình luật) cũng quy định không trừng phạt (trừ tội mưu phản) đối với hành vi giấu tội cho nhau của những người ruột thịt. Quy định này chính là sự ghi nhận mối quan hệ tình cảm gia đình là truyền thống đạo đức của người Việt Nam.

 

Nếu Điều 247 Bộ luật hình sự năm 1985 liệt kê các tội phạm mà người phạm tội không tố giác như Điều 246 Bộ luật hình sự năm 1985 thì 314 không liệt kê các tội phạm mà người phạm tội không tố giác như Điều 313 mà quy định theo phương pháp dẫn chiếu Điều 313 Bộ luật hình sự. Như vậy, hành vi không tố giác tội phạm cũng như hành vi che giấu tội phạm đều giống nhau ở dấu hiệu này (dấu hiệu về các tội phạm mà người phạm tội che giấu hoặc không tố giác).  

 

A. CÁC DẤU HIỆU CƠ BẢN CỦA TỘI PHẠM

 

1. Các dấu hiệu thuộc về chủ thể của tội phạm

 

Chủ thể của tội phạm này cũng không phải là chủ thể đặc biệt, nhưng chỉ những người từ đủ 16 tuổi trở lên mới có thể là chủ thể của tội phạm này, vì tội phạm này chỉ là tội phạm ít nghiêm trọng. (khoản 1 của điều luật có mức hình phạt tù cao nhất là ba năm. còn khoản 2 của điều luật là trường hợp loại trách nhiệm hình sự và khoản 3 của điều luật là trường hợp ược miễn trách nhiệm hình sự hoặc miến hình phạt). Do đó theo quy định tại Điều 12 Bộ luật hình sự thì chỉ những người đủ 16 tuổi trở lên mới chịu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm. Tuy nhiên, không phải cứ đủ 16 tuổi trở lên đều là chủ thể của tội phạm này mà theo quy định tại khoản 2 của điều luật thì người không tố giác là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội chỉ phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng, còn đối với các tội phạm khác họ không phải là chủ thể của tội phạm.

 

 

2. Các dấu hiệu thuộc về khách thể của tội phạm

 

Khách thể của tội phạm này cũng tương tự như khách thể của tội che giấu tội phạm quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự, nó xâm phạm đến hoạt động bình thường của các cơ quan tiến hành tố tụng, gây khó khăn cho công tác điều tra, truy tố, xét xử.

 

Đối tượng tác động của tội phạm này mà người phạm tội nhằm vào chỉ có thể là người phạm tội (người mà người phạm tội không tố giác), Thông qua người này (đối tượng tác động) mà người phạm tội xâm phạm đến hoạt động tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, ảnh hưởng đến việc phát hiện, điều tra, chứng minh tội phạm, vi phạm nguyên tắc xử lý là: “mọi hành vi phạm tội phải được phát hiện kịp thời, xử lý nhanh chóng, công minh theo đúng pháp luật”.

 

3. Các dấu hiệu thuộc về mặt khách quan của tội phạm

 

a. Hành vi khách quan

 

Khác với hành vi che giấu tội phạm, hành vi không tố giác tội phạm về lý luận gọi là “không hành động”, tức là người phạm tội không thực hiện bất cứ một hành vi nào (bất tác vi).

Không hành động là không làm một việc mà có nghĩa vụ phải làm và có thể làm được. Việc đánh giá hành vi ở dạng không hành động có phải là hành vi phạm tội hay không là một vấn đề phức tạp, cần đặt nó trong một hoàn cảnh cụ thể và trong mối quan hệ giữa người không hành động với những người khác và những quy định của pháp luật, của những quy tắc xử xự để xác định nghĩa vụ đối với người không hành động. Một người thực hiện hành vi phạm tội ở dạng hành động hoặc không hành đều là một xử sự có ý thức, có ý chí, nhưng đối với người thực hiện hành vi ở dạng không hành động chỉ coi là hành vi phạm tội khi họ phải có nghĩa vụ thực hiện hành vi, nghĩa vụ này xuất phát từ nghĩa vụ do luật định. Đối với hành vi không tố giác tội phạm, nghĩa vụ của mọi công dân là phải tố giác tội phạm với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Nghĩa vụ này được quy định trong các văn bản pháp luật như: khoản 1 Điều 25 Bộ luật tố tụng hình sự quy định: Các tổ chức, công dân có quyền và nghĩa vụ phát hiện, tố giác hành vi phạm tội; tham gia đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức”.

 

Hành vi không tố giác tội phạm được thể hiện như: không báo cáo với cơ quan có thẩm quyền hoặc những người có thẩm quyền biết về tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện mà mình biết rõ.

 

Một người không tố giác tội phạm chỉ phải bị coi là hành vi phạm tội nếu họ có khả năng tố giác, không gặp bất cứ một trở ngại khách quan nào. Nếu vì lý do khách quan mà người không tố giác không có khả năng tố giác thì hành vi không tố giác đó không bị coi là hành vi phạm tội. Ví dụ: Vũ Văn B nhìn thấy Bùi Văn Q vào nhà ông Trần Quốc T trộm cắp, B định đến Công an phường báo cáo với Công an về trộm cắp của Q nhưng liền lúc đó vợ của B nói B về nhà đưa con đi bệnh viên cấp cứu. B không đến Công an phường nữa mà về đưa con đi cấp cứu. Sau khi đưa con vào bệnh viện thì B cũng nhận được tin là Bùi Văn Q đã bị bắt.

 

Tuy điều luật không quy định thời hạn tố giác tội phạm là bao nhiêu kể từ khi người phạm tội biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã được thực hiện, nhưng tinh thần chung là khi biết rõ một tội phạm đang được chuẩn bị đã phải tố giác ngay cho cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền để ngăn chặn tội phạm rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng không xảy ra được. Tuy nhiên, nếu một người biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện nhưng không tố giác, nhưng sau khi tội phạm đã được thực hiện họ đã tố giác với cơ quan có thẩm quyền hoặc người có thẩm quyền, và nhờ hành vi tố giác nên Cơ quan điều tra đã bắt được người phạm tội, kết thúc vụ án và đưa ra xét xử, thì người có hành vi không tố giác tội phạm đang được chuẩn bị và đang được thực hiện không phải là hành vi phạm tội.

 

Nếu hành vi tố giác tội phạm quá muộn, nội dung tố giác không có ý nghĩa giúp cơ quan tiến hành tố tụng chứng minh tội phạm, hoặc cơ quan tiến hành tố tụng đã có đủ bằng chứng chứng minh tội phạm thì người có hành vi tố giác quá muộn đó có thể vẫn bị coi là hành vi phạm tội, và tuỳ trường hợp cụ thể, căn cứ vào tính chất, mức độ nguy hiểm và hậu quả do việc tố giác quá muộn, mà người tố giác quá muộn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội không tố giác tội phạm. Ví dụ: Phạm Thanh B biết rõ có một số người mua bán cổ vật để vận chuyển trái phép ra nước ngoài, nhưng không báo cho cơ quan có thảm quyền hoặc người có thẩm quyền để kịp thời ngăn chặn tội phạm. Chỉ đến khi Cơ quan điều tra bắt được một trong số những người thực hiện hành vi vận chuyển trái phép cổ vật qua biên giới, còn những người khác chưa bắt được, thì B mới tố giác với Cơ quan điều tra. Hành vi tố giác quá muộn của B bị coi là hành vi không tố giác tội phạm đang được chuẩn bị.

 

b. Hậu quả

 

Hậu quả của hành vi không tố giác tội phạm không phải là dấu hiệu bắt buộc của cấu thành tội phạm này. Tội phạm hoàn thành từ khi người phạm tội biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện mà không tố giác, không phụ thuộc vào hậu quả của việc không tố giác đó. Tuy nhiên, nếu hành vi không tố giác tội phạm chưa gây ra hậu quả như: lọt người, lọt tội hoặc vụ án không xử lý được hoặc tuy có được phát hiện xử lý nhưng chưa gây ra những hậu quả nghiêm trọng khác, thì người không tố giác có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt.

 

c. Các dấu hiệu khách quan khác

 

Cũng như hành vi che giấu tội phạm, không phải hành vi không tố giác tội phạm nào cũng là hành vi phạm tội, mà chỉ không tố giác một số tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự mới là hành vi phạm tội. Tuy nhiên, khác với Điều 247 Bộ luật hình sự năm 1985, Điều 314 Bộ luật hình sự năm 1999 không liệt kê mà lấy Điều 313 Bộ luật hình sự năm 1999 đã liệt kê các tội mà người phạm tội  che giấu để làm căn cứ xác định các tội mà người phạm tội không tố giác. Đây là quy định dẫn chiếu, do đó khi xác định hành vi không tố giác tội phạm có phải là hành vi phạm tội hay không cần phải căn cứ vào Điều 313 Bộ luật hình sự.

 

Cũng như đối với tội che giấu tội phạm, điều luật 313 Bộ luật hình sự đã liệt kê các tội phạm mà người phạm tội không tố giác sẽ bị coi là hành vi phạm tội, nhưng để xác định được chính xác tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện là tội phạm có thuộc trường hợp đã được liệt kê tại Điều 313 hay không phải đánh giá các tình tiết của vụ thì mới xác định được tội phạm mà người đó (người không tố giác) không tố giác thuộc trường hợp quy định tại khoản nào của điều luật, trên cơ sở đó mới xác định được tội phạm đó có thuộc trường hợp quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự hay không. Việc xác định này không phụ thuộc vào nhận thức của người không tố giác mà là do cơ quan tiến hành tố tụng thực hiện. Nếu cơ quan tiến hành tố tụng xác định sai mà khởi tố, truy tố, xét xử người không tố giác thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng mà cơ quan tiến hành tố tụng sẽ ra quyết định đình chỉ vụ án đối với người không tố giác, ngược lại nếu do xác định sai mà không khởi tố, không truy tố hoặc không kết án thì tuỳ từng giai đoạn tố tụng mà cơ quan tiến hành tố tụng ra quyết định khởi tố hoặc phục hồi điều tra hoặc phải xét xử lại nhằm kết án người không tố giác tội phạm, nếu thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự vẫn còn.

 

4. Các dấu hiệu thuộc về mặt chủ quan của tội phạm

 

Người phạm tội không tố giác tội phạm thực hiện hành vi phạm tội của mình là do cố ý, tức là người phạm tội nhận thức rõ hành vi của mình là gây khó khăn cho cơ quan tiến hành tố tụng phát hiện và xử lý tội phạm nhưng vẫn không tố giác.

 

Về nhận thức, người phạm tội phải là người biết rõ tội phạm mà mình không tố giác là tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện.

 

Biết rõ một tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện là không còn nghi ngờ gì về nhận thức của mình nữa.

 

Biêt rõ tội phạm đang được chuẩn bị là biết rõ một hoặc một số người đang  tìm kiếm, sửa soạn công cụ, phương tiện hoặc tạo ra những điều kiện khác để thực hiện tội phạm.

 

Chuẩn bị phạm tội là một giai đoạn trong quá trình thực hiện tội phạm, nhưng ở giai đoạn này người phạm tội chưa thực hiện hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm, tức là chưa có hành vi xâm phạm đến đối tượng tác động. Ví dụ: Huỳnh Văn C vào nhà vệ sinh công cộng thì nghe thấy Vũ Văn T đang nói với một thanh niên khác mà C không biết tên là: “tao đã mua được dao găm rồi, tối nay ra điểm hẹn cướp xe máy bán lấy tiền cá độ bóng đá”, C định đi báo Công an nhưng vì Huỳnh văn C là bạn thân nên bỏ qua. Hôm sau, C nghe có vụ cướp xe máy ở đầu cầu Y, C đoán là do T và đồng bọn của T thực hiện.

 

Hành vi chuẩn bị phạm tội thường được thể hiện dưới các dạng như sau:

 

Chuẩn bị kế hoạch tội phạm như: bàn bạc, phân công trách nhiệm cho từng người, kế hoạch tiêu thụ tài sản hay kế hoạch che giấu tội phạm... Dạng chuẩn bị phạm tội này thương xảy ra đối với những tội phạm được thực hiện có đồng phạm hoặc có tổ chức. Tuy nhiên cũng có trường hợp tội phạm chỉ do một người thực hiện vẫn có sự chuẩn bị kế hoạch tội phạm. Ví dụ: A có ý định đầu độc B, tự A đã vạch ra một kế hoạch như mua thuốc độc ở đâu, bỏ thuốc độc vào nước cho B uống như thế nào, sau khi B bị trúng độc thì làm thế nào để che giấu được tội phạm v.v...

 

Thăm dò hoặc tìm địa điểm phạm tội, dạng chuẩn bị này chủ yếu đối với các tội xâm phạm sở hữu hoặc xâm phạm tính mạng, sức khoẻ, nhân phẩm của công dân. Ví dụ: A muốn trộm cắp nhà B, nên A đã nhiều lần đến nhà B thăm dò xem gia đình B thường vắng nhà vào giờ nào, quy luật sịnh hoạt của gia định B ra sao để thực hiện hành vi trộm cắp.

 

Chuẩn bị công cụ, phương tiện phạm tội như: Chuẩn bị xe máy để đi cướp giật, chuẩn bị dao để giết người, chuẩn bị thuốc nổ để hủy hoại tài sản, chuẩn bị xăng để đốt nhà, chuẩn bị thuốc mê để làm cho người có tài sản uống nhằm chiếm đoạt tài sản của họ, chuẩn bị giấy tờ giả mạo để lừa đảo.v.v...

 

Loại trừ trước những trở ngại khách quan để thực hiện tội phạm được thuận lợi dễ dàng như: Ngắt cầu giao điện để đêm đột nhập vào kho trộm tài sản, cho các con đi nghỉ mát để ở nhà giết vợ được dễ dàng v.v...

 

Như vậy, chuẩn bị phạm tội là hành vi tạo ra tiền đề (điều kiện) cần thiết cho việc thực hiện tội phạm. Hành vi chuẩn bị phạm tội có một ý nghĩa rất quan trọng đến kết quả của việc thực hiện tội phạm, chuẩn bị càng chu đáo công phu bao nhiêu thì kết quả của việc thực hiện tội phạm càng đạt kết quả bấy nhiêu. Do đó nhà làm luật quy định người nào biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị mà không tố giác cũng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự.

 

Biết rõ tội phạm đang được thực hiện là biết rõ người phạm tội đã bắt đầu thực hiện hành vi phạm tội nhưng chưa thực hiện xong. Trường hợp phạm tội này khoa học pháp lý gọi là phạm tội chưa đạt.

 

Phạm tội chưa đạt là cố ý thực hiện tội phạm nhưng không thực hiện được đến cùng vì những nguyên nhân ngoài ý muốn của người phạm tội.

 

Đã bắt đầu thực hiện tội phạm là đã bắt tay vào thực hiện một hoặc một số dấu hiệu thuộc hành vi khách quan của cấu thành tội phạm cụ thể. Tuy nhiên, cần hiểu thực hiện tội phạm chỉ có thực hiện hành vi khách quan của cấu thành mà không bao gồm cả hành vi che giấu tội phạm tội. Sau khi tội phạm đã hoàn thành thì mọi hành vi được thực hiện sau đó có thể là hành vi cấu thành một tội phạm khác hoặc là hành vi che giấu tội phạm, chứ không phải là hành vi thực hiện tội phạm cụ thể đang xem xét các giai đoạn thực hiện tội phạm.

 

Khoa học pháp lý chia phạm tội chưa đạt thành hai loại: Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành và phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành.

 

Phạm tội chưa đạt đã hoàn thành là người phạm tội đã thực hiện hết những hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành, nhưng vì nguyên nhân khách quan nên hậu quả không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, đã hoàn thành về hành vi). Ví dụ: Một người có ý định giết người khác, đã dùng súng bắn ba phát vào nạn nhân và tin là nạn nhân đã chết nên bỏ đi, nhưng sau đó nạn nhân được cứu chữa nên không chết. Ở đây, người phạm tội đã hành động như ý muốn và tin là hậu quả sẽ xảy ra nhưng lại không xảy ra. Người phạm tội đã thực hiện hết những hành vi là dấu hiệu khách quan của cấu thành, tức là cấu thành tội phạm đó quy định bao nhiêu hành vi khách quan thì người phạm tội phải thực hiện hết. Ví dụ: Tội lửa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hành vi là dấu hiệu khách quan của cấu thành, đó là hành vi gian dối và hành vi chiếm đoạt, nếu người phạm tội mới có hành vi gian dối nhưng chưa thực hiện được hành vi chiếm đoạt đã bị phát hiện nên không thực hiện được đến cùng tội lửa đảo chiếm đoạt tài sản nữa thì không phải là trường hợp phạm tội chưa đạt đã hoàn thành mà thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành. Trong thực tiễn, có nhiều trường hợp người phạm tội do không hiểu tội phạm mà mình thực hiện có bao nhiêu hành vi là dấu hiệu khách quan của cấu thành, cứ tưởng mình đã thực hiện hết hành vi nhưng thực tế chưa hết và không hiểu vì sao tội phạm mà mình thực hiện vẫn không hoàn thành, thì người phạm tội vẫn phạm tội chưa đạt đã hoàn thành. Trường hợp này là trường hợp sai lầm về sự việc.

 

- Phạm tội chưa đạt chưa hoàn thành là trường hợp vì nguyên nhân khách quan mà người phạm tội chưa thực hiện hết các hành vi thuộc mặt khách quan của cấu thành tội phạm nên hậu quả không xảy ra (chưa đạt về hậu quả, chưa hoàn thành về hành vi). Ví dụ: một người có ý định dùng dao găm đâm nhiều nhát vào một người để tước đoạt tính mạng người đó, nhưng mới đâm được một nhát thì bị người khác giữ tay lại, không đâm tiếp được nữa, và nạn nhân không chết chỉ bị thương. Trường hợp này người phạm tội chưa đâm được như ý muốn, chưa tin vào hậu quả xảy ra và hậu quả cũng không xảy ra.

 

Biết rõ tội phạm đã thực hiện là biết rõ tội phạm đã xảy ra, bao gồm tội phạm đã hoàn thành và tội phạm đã kết thúc.

 

Tội phạm đã hoàn thành là tội phạm đã thoả mãn các dấu hiệu của cấu thành tội phạm cụ thể. Thời điểm hoàn thành của mỗi tội phạm khác nhau, căn cứ vào tính chất, đặt điểm của từng tội phạm và yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm đó. Để nhận biết thế nào là tội phạm hoàn thành, phải căn cứ vào các dấu hiệu được nhà làm luật quy định trong từng cấu thành tội phạm cụ thể. Đối với tội phạm có cấu thành vật chất thì thời điểm hoàn thành là lúc tội phạm đó gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội như: tội giết người; tội trộm cắp tài sản; tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản… Đối với tội phạm có cấu thành hình thức thì thời điểm hoàn thành từ lúc người phạm tội bắt đầu thực hiện hành vi khách quan của tội phạm, không phụ thuộc vào hậu quả nguy hiểm đã xảy ra hay chưa như: tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản; tội cưỡng đoạt tài sản…  

 

Tội phạm kết thúc là tội phạm đã hoàn thành nhưng không còn tiếp tục xảy ra nữa. Thông thường đối với các tội phạm có cấu thành vật chất, tội phạm ở thời điểm hoàn thành cũng là lúc tội phạm kết thúc. Tuy nhiên đối với các tội phạm có cấu thành hình thức, mặc dù tội phạm đã hoàn thành nhưng nếu không có gì ngăn cản thì người phạm tội vẫn tiếp tục thực hiện những hành vi cần thiết để tội phạm tiếp tục xảy ra cho đến khi thực hiện được như ý muốn của mình. Tuy nhiên, không phải bao giờ tội phạm kết thúc cũng xảy ra sau khi tội phạm đã hoàn thành mà trong một số trường hợp tội phạm kết thúc ngay trong giai đoạn chuẩn bị phạm tội hoăc phạm tội chưa đạt. Tội phạm kết thúc ở các giai đoạn này là vì có những trở ngại khách quan mà người phạm tội không tiếp tục thực hiện được tội phạm nữa nên tội phạm kết thúc ngoài ý muốn của người phạm tội.

 

Biết rõ một tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện nhưng không có nghĩa là người phạm tội phải biết rõ tội phạm đó là tội gì, là tội xâm phạm an ninh quốc gia hay tội phạm thường, là tội ít nghiêm trọng, nghiêm trọng, rất nghiêm trọng hoặc đặc biệt nghiêm trọng. Nếu người phạm tội biết một tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện mà không tố giác thì trách nhiệm hình sự phụ thuộc vào kết quả chứng minh của cơ quan tiến hành tố tụng. Như vậy, việc truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người có hành vi không tố giác tội phạm, ngoài những dấu hiệu khác thì cơ quan tiến hành tố tụng cần phải xác định trước tội phạm mà người không tố giác là loại tội phạm nào có được quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự hay không.

 

B. CÁC TRƯỜNG HỢP PHẠM TỘI CỤ THỂ

 

1. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự

 

Theo quy định tại khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự, thì người phạm tội có thể bị phạt cảnh cáo, cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc bị phạt tù từ ba tháng đến ba năm, là tội phạm ít nghiêm trọng.

 

Khi quyết định hình phạt đối với người phạm tội theo khoản 1 Điều 314 Bộ luật hình sự, Toà án phải cân nhắc đến tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi không tố giác tội phạm. Tính chất, mức độ nghiêm trọng của tội phạm mà người phạm tội không tố giác; nếu các tình tiết khác của vụ án như nhau thì không tố giác tội xâm phạm an ninh quốc gia sẽ nghiêm trọng hơn không tố giác tội phạm khác; không tố giác tội đặc biệt nghiêm trọng nguy hiểm hơn không tố giác tội phạm rất nghiêm trọng.

 

Ngoài các yếu tố trên, nếu người phạm có nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng hoặc tuy có nhưng mức độ tăng nặng không đáng kể, thì có thể được áp dụng hình phạt cảnh cáo hoặc cải tạo không giam giữ. Nếu người phạm tội không tố giác tội xâm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng và có nhiều tình tiết tăng nặng quy định tại Điều 48 Bộ luật hình sự, không có tình tiết giảm nhẹ hoặc nếu có nhưng mức độ giảm nhẹ không đáng kể, thì có thể bị phạt đến ba năm tù.

 

Nói chung, việc xử lý đối với người không tố giác tội phạm chủ yếu giáo dục là chính, chỉ áp dụng hình phạt tù đối với trường hợp người phạm tội đã được giáo dục nhiều lần hoặc đã có tiền án, tiền sự, cố tình không tố giác tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng có mức hình phạt cao nhất trong khung hình phạt là chung thân hoặc tử hình.

 

2. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 314 Bộ luật hình sự

 

Khoản 2 của điều luật không phải là cấu thành tăng nặng hay cấu thành giảm nhẹ mà là trường hợp loại trừ trách nhiệm hình sự đối với một số trường hợp đối với người không tố giác tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội. Xét về kỹ thuật lập pháp thì nhà làm luật đã quy định trường hợp loại trách nhiệm hình sự này ở Điều 22 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 314 chỉ nhắc lại quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự, chứ không phải cụ thể hoá quy định tại Điều 22 Bộ luật hình sự. Vì vậy, có ý kiến cho rằng, nhà làm luật không cần quy định khoản 2 Điều 314 Bộ luật hình sự mà vẫn bảo đảm việc loại trừ trách nhiệm hình sự đối với ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội. Chúng tôi cho rằng, ý kiến này là hợp lý, nên đề nghị khi có chủ trương sửa đổi, bổ sung Bộ luật hình sự năm 1999 nhà làm luật xem xét và cơ cấu lại Điều 314 cho phù hợp hơn.

 

Theo quy định tại khoản 2 Điều 22 và khoản 2 Điều 314 Bộ luật hình sự thì ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự về việc không tố giác các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự.

 

Ông, bà của người phạm tội bao gồm: ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại;

Cha, mẹ bao gồm cha mẹ đẻ hoặc cha mẹ nuôi; nếu là cha mẹ nuôi thì việc nhận con nuôi phải đúng với quy định của pháp luật về nhận con nuôi;

Con bao gồm con đẻ hoặc con nuôi; nếu là con nuôi thì việc nhận con con nuôi phải đúng quy định của pháp luật về nhận con nuôi;

Anh chị em ruột bao gồm anh chị em cùng cha mẹ, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha; không bao gồm anh chị em nuôi, vì điều luật chỉ quy định “anh chị em ruột”;

Vợ hoặc chồng là vợ chồng hợp pháp được pháp luật công nhận; nếu là hôn nhân thực tế và không được pháp luật công nhận thì vẫn không được loại trừ trách nhiệm hình sự mặc dù họ sống chung với nhau như vợ chồng, có con chung và được mọi người coi như vợ chồng.

 

Điều luật không quy định những người này phải thường xuyên sống chung với người phạm tội hoặc thường xuyên quan hệ với người phạm tội, mà chỉ cần có quan hệ huyết thống với người phạm tội. Nếu có tranh chấp về quan hệ huyết thống thì cần phải trưng cầu giám định. Ví dụ: Vũ Xuân B ở thành phố Hồ Chí Minh phạm tội trộm cắp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự. Sau khi phạm tội, B trốn lên Đà Lạt đến nhà Trịnh Xuân K mà theo lời kể của mẹ B thì ông K là bố đẻ của B chứ không phải ông Bùi Ngọc H đang là chồng của mẹ B và là bố của B theo giấy khai sinh của B. Ông K cũng biết là mình mới là bố đẻ của B nhưng vì hoàn cảnh nên ông không kết hôn được với mẹ của B; khi biết được B phạm tội, ông chỉ khuyên B hãy về tự thú với Công an và cho tiền B để B bồi thường cho người bị hại, nhưng vì thương con, ông K không báo cho Công an biết về hành vi trộm cắp của B. Sau khi bắt được B, Cơ quan điều tra đã khởi tố ông K về tội không tố giác tội phạm. Tại Cơ quan điều tra ông K khai mình là bố đẻ của B, vì thương con nên ông không tố giác hành vi phạm tội của B. Cơ quan điều tra đã xác minh và kết luận, ông K đúng là bố của B nên đã ra quyết định đình chỉ vụ án đối với ông K. 

 

Các tội xâm phạm an ninh quốc gia hoặc các tội khác là tội đặc biệt nghiêm trọng theo quy định tại Điều 313 Bộ luật hình sự mà người không tố giác tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội phải chịu trách nhiệm hình sự bao gồm các tội phạm sau:

 

Các điều từ Điều 78 đến Điều 91 về các tội xâm phạm an ninh quốc gia; Điều 93, khoản 1 (tội giết người); Điều 111, các khoản 3 và 4 (tội hiếp dâm); Điều 112, các khoản 2, 3 và 4 (tội hiếp dâm trẻ em); Điều 114, khoản 3 (tội cưỡng dâm trẻ em); Điều 119, khoản 2 (tội mua bán phụ nữ); Điều 120, khoản 2 (tội mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em); Điều 133, các khoản 3 và 4 (tội cướp tài sản); Điều 134, các khoản 3 và 4 (tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản); Điều 138, khoản 4 (tội trộm cắp tài sản); Điều 139, khoản 4 (tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản); Điều 140, khoản 4 (tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản); Điều 143,  khoản 4 (tội huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản); Điều 153, các khoản 4 (tội buôn lậu); Điều 157, các khoản 3 và 4 (tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh); Điều 165, khoản 3 (tội cố ý làm trái quy định của Nhà nước về quản lý kinh tế gây hậu quả nghiêm trọng); Điều 179, khoản 3 (tội vi phạm quy định về cho vay trong hoạt động của các tổ chức tín dụng); Điều 180, khoản 3 (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành tiền giả, ngân phiếu giả, công trái giả); Điều 181, khoản 3  (tội làm, tàng trữ, vận chuyển, lưu hành séc giả, các giấy tờ có giá giả khác);Điều 193, các khoản 3 và 4 (tội sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 194, các khoản 3 và 4 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý); Điều 195, các khoản 3 và 4 (tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma tuý); Điều 197,các khoản 3 và 4 (tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 200, các khoản 3 và 4 (tội cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý); Điều 201, các khoản và 4 (tội vi phạm quy định về quản lý, sử dụng thuốc gây nghiện hoặc các chất ma tuý khác); Điều 206, khoản 4 (tội tổ chức đua xe trái phép); Điều 221, các khoản 2 và 3  (tội chiếm đoạt tàu bay, tàu thuỷ); Điều 230, khoản 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vũ khí quân dụng, phương tiện kỹ thuật quân sự); Điều 231, khoản 2 (tội phá huỷ công trình, phương tiện quan trọng về an ninh quốc gia); Điều 232, khoản 4 (tội chế tạo, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt vật liệu nổ); Điều 236, khoản 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất phóng xạ); Điều 238,  khoản 4 (tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, sử dụng hoặc mua bán  trái phép chất cháy, chất độc);  Điều 278, các khoản 3 và 4 (tội tham ô tài sản); Điều 279, các 3 và 4 (tội nhận hối lộ); Điều 280, các khoản 3 và 4 (tội lạm dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản); Điều 282,  khoản 3 (tội lạm quyền trong khi thi hành công vụ); Điều 283, các khoản 3 và 4 (tội lợi dụng chức vụ, quyền hạn gây ảnh hưởng đối với người khác để trục lợi); Điều 284, khoản 4 (tội giả mạo trong công tác); Điều 289, các khoản 3 và 4 (tội đưa hối lộ); Điều 290, khoản 4 (tội làm môi giới hối lộ); Các điều từ Điều 341 đến Điều 343 và Điều 344, khoản 1 về các tội phá hoại hoà bình, chống loài người và tội phạm chiến tranh.

 

Khi xác định trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác tội phạm là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội khi họ có hành vi không tố giác tội phạm thuộc một trong các trường hợp đã liệt kê ở trên cũng tương tự như đối với trường hợp xác định trách nhiệm hình sự đối với người không tố giác tội phạm không phải là ông, bà, cha, mẹ, con, cháu, anh chị em ruột, vợ hoặc chồng của người phạm tội. Chỉ cần biết rõ là tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện, mà không cần họ phải biết rõ tội phạm đó là tội gì, là tội xâm phạm an ninh quốc gia hay tội phạm thường, có phải là tội đặc biệt nghiêm trọng hay không, mà việc xác định là do cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng.

 

 3. Phạm tội thuộc trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 314 Bộ luật hình sự

 

Khác với các điều luật quy định trong chương này, khoản 3 Điều 314 Bộ luật hình sự không phải là cấu thành tăng nặng mà là cấu thành giảm nhẹ với tình tiết “người không tố giác nếu đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm, thì có thể được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt”. Đây là một trong nhiều trường hợp nhà làm luật quy định người phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt mà các điều kiện của nó hoàn toàn khác với quy định tại Điều 25 (miễn trách nhiệm hình sự) và Điều 54 (miễn hình phạt) của Bộ luật hình sự. Căn cứ để miễn trách nhiệm hình sự và miễn hình phạt theo quy định taịu Điều 25 và Điều 54 Bộ luật hình sự hoàn toàn khác với căn cứ để miến trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt quy định tại khoản 3 Điều 314 Bộ luật hình sự. Vì vậy, khi xem xét để miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho người phạm tội không tố giác tội phạm chỉ căn cứ vào quy định tại khoản 3 Điều 314 Bộ luật hình sự mà không phải căn cứ vào Điều 25 hoặc Điều 54 Bộ luật hình sự, tức là chỉ căn cứ vào hiệu quả của hành động can ngăn và tác hại của tội phạm được hạn chế.

 

Người không tố giác nếu đã có hành động căn ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm là trường hợp biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện, tuy không tố giác nhưng đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm.

 

Hành động can ngăn có thể bằng lời nói hoặc bằng việc làm cụ thể đối với người phạm tội. Ví dụ: Đặng Xuân Đ biết rõ Vũ Minh T chuẩn bị dao găm là để đi cướp tài sản nhưng Đ đã khuyên T từ bỏ việc cướp tài sản, T giả vờ đồng ý nhưng sau đó T vẫn thực hiện hành vi cướp tài sản. Chỉ cần có hành động can ngăn, còn kết quả của việc can ngăn đó như thế nào không phải là dấu hiệu bắt buộc để làm căn cứ miễn trách nhiệm hình sự hoặc miễn hình phạt cho người không tố giác tội phạm. Tuy nhiên, nếu việc can ngăn có kết quả thì tuỳ trường hợp cụ thể mà người không tố giác có thể được miễn trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Vũ Thị Kim D là vợ của Phạm Viết C biết rõ C đang cùng với một số người tổ chức cho người khác trốn ra nước ngoài vì mục đích chống chính quyền nhân dân; C đã vận động được 5 người. Thấy việc làm của chồng là phạm pháp nên Vũ Thị Kim D đã ngăn cản C không được làm như vậy, nếu bị lộ sẽ bị bắt đi tù khổ vợ con. Sau khi nghe vợ khuyên can, C không tiếp tục vận động người khác trốn đi nước ngoài nữa.

 

Người không tố giác đã hạn chế tác hại của tội phạm là trường hợp biết rõ tội phạm đang được chuẩn bị, đang được thực hiện hoặc đã thực hiện, tuy không tố giác nhưng đã tự mình có những hành động hạn chế tác hại của tội phạm.

 

Tác hại của tội phạm là những thiệt hại về vật chất hoặc phi vật chất cho xã hội do hành vi phạm tội gây ra. Ví dụ: Phạm Thanh B biết rõ Bùi Sĩ T bỏ thuốc độc vào giếng nhà ông Đặng Văn Đ để đầu độc cả gia đình ông Đ; mặc dù B không tố giác hành vi phạm tội của T với cơ quan có thẩm quyền, vì T là ân nhân của B nhưng B đã viết giấy báo cho gia đình ông Đ là giếng nhà ông Đ có thuốc độc. Do được thông báo kịp thời nên gia đình ông Đ không uống nước giếng nên không ai bị ngộ độc. Tuy nhiên, nếu là những tác hại phi vật chất thì việc xác định khó hơn.

 

Hành động can ngăn người phạm tội và hành động hạn chế tác hại của tội phạm của người không tố giác tội phạm không phải bao giờ cũng tách bạch, mà không ít trường hợp hành động căn ngăn người phạm tội lại chính là nguyên nhân dẫn đến tác hại của tội phạm được hạn chế. Vì vậy, khi xác định tình tiết “đã có hành động can ngăn người phạm tội hoặc hạn chế tác hại của tội phạm” của người không tố giác tội phạm cần phải xem xét một cách toàn diện, nếu người không tố giác vừa có hành động can ngăn, vừa có hành động hạn chế tác hại của tội phạm thì cần xác định là người không tố giác “đã có hành động can ngăn người phạm tội  hạn chế tác hại của tội phạm”; nếu người không tố giác chỉ có hành động căn ngăn người phạm tội mà không có hành động hạn chế tác hại của tội phạm thì chỉ xác định là “có hành động can ngăn người phạm tội”; nếu người không tố giác chỉ có hành động hạn chế tác hại của tội phạm, mà không có căn ngăn người phạm tội thì chỉ xác định là “có hành động hạn chế tác hại của tội phạm”.

 

Khi cân nhắc tình tiết “đã có hành động can ngăn người phạm tội hoăc hạn chế tác hại của tội phạm” để miễn trách nhiệm hình sự hay chỉ được miễn hình phạt cần chú ý:

 

Nếu người không tố giác có hành động can ngăn người phạm tội, đồng thời lại hạn chế tới mức thấp nhất tác hại của tội phạm thì được miến trách nhiệm hình sự. Ví dụ: Tạ  Hữu T biết rõ Vũ Quốc H là bạn học mua thuốc độc để đầu độc vợ vì T biết H chê vợ già; T đã can ngăn H không nên xử xự như vậy, H giả vờ nghe lời khuyên của T và hứa sẽ đổ thuốc độc đi. Do không tin vào lời hứa của H nên T đã bí mật đổi lọ thuốc độc bằng một lọ nước có màu sắc giống lọ thuốc độc mà H đã chuẩn bị đầu độc vợ nên khi H cho vợ uống thì vợ của H không bị ngộ độc và không bị chết.

 

Nếu người không tố giác tội phạm tuy có hành vi can ngăn người phạm tội hoặc có hành động hạn chế tác hại của tội phạm nhưng mức độ không đáng kể thì chỉ có thế được miến hình phạt. Ví dụ: Nguyễn Văn K biết rõ Hà Quang D vay tiền của K là để mua bán trái phép chất ma tuý, nên K đã từ chối không cho D vay tiền, nhưng không tố giác hành vi mua bán trái phép chất ma tuý của D. Do không vay được tiền của K nên D chỉ mua được một lượng ma tuý ít hơn so với dự định.

Các bài viết khác

Luật sư tư vấn miễn phí

Gọi ngay
0902818158- 0906834543
0906834543
0902818158

CÁC ĐỐI TÁC

  • Nhà Đất Phúc An Khang
  • The Diplomat
  • The NewYork Review of Book
  • CogitAsia
  • Reuters
  • Viet Studies
  • The NewYork Times
  • TIME
  • Bloomberg Bussiness